SKKN Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn trẻ trong trường Mầm non - Nguyễn Thị Thanh Cảnh

pdf 42 trang Anh Túc 25/09/2026 60
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "SKKN Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn trẻ trong trường Mầm non - Nguyễn Thị Thanh Cảnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_bien_phap_xay_dung_thuc_don_nham_nang_cao_chat_luong_bu.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn trẻ trong trường Mầm non - Nguyễn Thị Thanh Cảnh

  1. ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON CHÂU SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Tên sáng kiến: “Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn trẻ trong trường mầm non” Tên Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Cảnh Đơn vị công tác: Trường Mầm non Châu Sơn Chức vụ: Nhân viên Năm 2025
  2. 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm trường mầm non Châu Sơn; Hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm Huyện Ba Vì. Trình độ Họ và Ngày tháng Nơi công Chức chuyên Tên sáng kiến tên năm sinh tác danh môn Biện pháp xây dựng Nguyễn Trường Mầm thực đơn nhằm nâng Thị Thanh 27/02/1986 non Châu Nhân viên Cao đẳng cao chất lượng bữa ăn Cảnh Sơn cho trẻ trong trường mầm non 1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực có thể áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực Nuôi dưỡng. Vấn đề mà sáng kiến giải quyết: Đưa ra các giải pháp để xây dựng thực đơn đạt về lượng cân đối về chất, đảm bảo đúng quy định để nâng cao chất lượng chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. 2. Tên sáng kiến đề nghị công nhận: Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng dinh dưỡng cho trẻ trong trường mầm non. 3. Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Từ tháng 9/2024 đến tháng 4/2025 tại trường Mầm non Châu Sơn. 4. Mô tả bản chất của sáng kiến: Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. Sáng kiến trình bày theo đúng thể thức văn bản khoa học. Kết cấu sáng kiến gồm ba phần ( Đặt vấn đề, nội dung sáng kiến, kiến nghị, đề xuất). Sáng kiến đã đưa ra một số giải pháp cụ thể xây dựng thực đơn đạt về lượng, cân đối về chất cho trẻ trong trường mầm non nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, giúp trẻ ăn ngon miệng, để công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của nhà trường đạt kết quả tốt nhất, đồng thời tạo niềm tin đối với phụ huynh khi gửi con em mình tới trường. Các giải pháp thực hiện: Giải pháp 1: Tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân. Giải pháp 2: Xây dựng thực đơn khoa học, cân đối đảm bảo khẩu phần ăn cho trẻ.
  3. 3 Giải pháp 3: Nghiêm túc thực hiện quy trình giao nhận thực phẩm và cách lựa chọn thực phẩm tươi ngon. Giải pháp 4: Ưng dụng công nghệ thông tin vào tính khẩu phần ăn hàng ngày. Giải pháp 5: Cải tiến cách chế biến món ăn. Giải pháp 5: Sử dụng phần mềm tính khẩu phần ăn hàng ngày của trẻ. Giải pháp 6: Đảm bảo an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm. Giải pháp 7: Phối hợp với giáo viên tổ chức bữa ăn cho trẻ và tìm hiểu tâm lý trẻ. 5. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không 6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Đối với nhân viên: Nhân viên luôn được sự chỉ đạo và giúp đỡ, quan tâm thường xuyên, kịp thời của BGH nhà trường và tổ chuyên môn. Nhân viên được học hỏi các chuyên đề, bồi dưỡng chuyên môn vững vàng, nắm chắc kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Nhân viên được sự ủng hộ và quan tâm nhiệt tình của phụ huynh học sinh và sự giúp đỡ, góp ý nhiệt tình của đồng nghiệp. Đối với phụ huynh: Luôn quan tâm, ủng hộ phối hợp và động viên kịp thời con em mình trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại gia đình và tại trường. Đối với Ban giám hiệu: Nhà trường trang bị đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ công tác chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường. Triển khai các chuyên đề nuôi dưỡng để nhân viên được trao đổi, thảo luận về các biện pháp xây dựng thực đơn nâng cao chất lượng dinh dưỡng cho trẻ. 7. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: Hiệu quả về kinh tế: Sau khi áp dụng các giải pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng dinh dưỡng cho trẻ tại trường bản thân tôi và toàn thể nhà trường đã đạt được những hiệu quả rõ rệt: Kỹ năng về xây dựng thực đơn của cô nuôi ngày càng nâng cao, đảm bảo khẩu phần ăn của trẻ được đầy đủ, không lãng phí thực phẩm. Hàng ngày, tôi cùng nhân viên trong tổ nuôi dưỡng lên thực đơn mẫu đạt về lượng, cân đối về chất trong ngân hàng thực đơn của nhà trường vì vậy tôi tiết kiệm được thời gian trong quá trình cân đối thực đơn hàng ngày cho trẻ. Hiệu quả về xã hội: Đối với trẻ: Trẻ được ăn theo thực đơn mà tôi và các đồng nghiệp xây dựng. Trẻ ăn ngon miệng hơn, ăn hết khẩu phần của mình, trẻ thích được ăn cơm ở trường
  4. 4 hơn ở nhà. Trẻ phát triển toàn diện về thể chất và mọi mặt, chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường ngày càng được nâng cao. Đối với nhân viên nuôi dưỡng: Ngày càng nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc, không ngừng học hỏi, sáng tạo, và xây dựng được nhiều món ăn ngon, đầy đủ dinh dưỡng cho trẻ. Đối với phụ huynh: Phụ huynh học sinh hoàn toàn tin tưởng khi gửi gắm con em mình ăn bán trú tại nhà trường. Phụ huynh luôn đồng hành, ủng hộ và động viên kịp thời trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Đối với xã hội: Nhà trường luôn nhận được sự ủng hộ, quan tâm của các cấp, các ngành, các Đoàn thể và nhân dân địa phương nhờ vậy mà công tác chăm 8. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: Không Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Châu Sơn, ngày 30 tháng 04 năm 2025 Người yêu cầu (Ký và ghi rõ họ tên) Nguyễn Thị Thanh Cảnh
  5. 5 Mẫu 03 TRƯỜNG MN CHÂU SƠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HĐSK MN CHÂU SƠN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Châu Sơn, ngày 20 tháng 03 năm 2025 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ - Tên sáng kiến: “Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non” - Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Thanh Cảnh - Họ tên người đánh giả: Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ - Cơ quan công tác: Trường mầm non Châu Sơn Nhận xét 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: (Nhận xét về tính mới và nêu rõ tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể, rõ ràng cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): 45 điểm. 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm Sáng kiến có giải pháp cải tiến so với phương pháp cũ, có tính ứng dụng cao và phù hợp với điều kiện hiện tại. Cách thức thực hiện được trình bày chi tiết, dễ hiểu và có thể áp dụng trong thực tế. Điểm đánh giá: 18 điểm 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ (như có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp ): 5 điểm Sáng kiến đã phân tích rõ ràng những điểm khác biệt so với giải pháp cũ và giải pháp mới, có những số liệu khảo sát cụ thể trước và sau khi áp dụng, có so sánh đối chứng kết quả đầy đủ chi tiết, rõ ràng. Điểm đánh giá: 4 điểm 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo, hiệu quả (nêu rõ kết quả, hiệu quả khi áp dụng cách làm, giải pháp mới ): 20 điểm Giải pháp mới được trình bày chi tiết, có tính logic và dễ dàng triển khai. Sáng kiến có sự phân tích kỹ lưỡng về tính sáng tạo, thể hiện sự cải tiến. Điểm đánh giá: 15.5 điểm
  6. 6 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng (Nhận xét mức độ thực hiện và khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng ngành, lĩnh vực hoặc rộng rãi cho nhiều ngành, địa phương trong thực tế đạt hiệu quả): 30 điểm. 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước (khi chưa áp dụng nội dung sáng kiến) và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp mới: 10 điểm. Sáng kiến đã đưa ra các số liệu cụ thể để chứng minh tính hiệu quả, bao gồm các chỉ số trước và sau khi thực hiện. Những số liệu này góp phần khẳng định tính thực tiễn của giải pháp. Điểm đánh giá: 9 điểm. 2.2. Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. Sáng kiến có khả năng nhân rộng ra các đơn vị khác trong cùng lĩnh vực. Phương pháp triển khai đơn giản giúp tăng tính ứng dụng và phổ biến của sáng kiến trong thực tế. Điểm đánh giá: 16 điểm 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến (Nhận xét sáng kiến đó đã được số đông thừa nhận và đã mang lại hiệu quả cụ thể cho cơ quan, tổ chức như: Nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính - sự nghiệp, hiệu quả kinh tế hoặc lợi ích xã hội, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả công tác): 20 điểm Các giải pháp có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có thể ứng dụng rộng rãi đối với nhân viên công tác tại các trường mầm non, góp phần nâng cao chất lượng công tác nuôi dưỡng cho trẻ trong trường. Điểm đánh giá: 15 điểm 4. Nội dung 4. Về hình thức (Nhận xét cách trình bày khoa học, đầy đủ, bố cục logic): 5 điểm. Sáng kiến được trình bày khoa học, bố cục rõ ràng và hợp lý. Nội dung mạch lạc, dễ hiểu, đảm bảo tính logic trong từng phần, đúng thể thức văn bản, văn phong phù hợp. Điểm đánh giá: 4.5 điểm Tổng số điểm sáng kiến: 82 điểm Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt phải đạt 70 điểm trở lên) - Đạt  - Không đạt □ Người đánh giá (Họ, tên và chữ ký) Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ
  7. 7 MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. 1 1.1. Cơ sở lý luận 1 1.2. Cơ sở thực tiễn 1 2. Mục tiêu của đề tài sáng kiến 2 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3 4. Số lượng điều tra trước khi thực hiện đề tài 3 PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 4 1. Hiện trạng của vấn đề 4 1.1. Đặc điểm tình hình 4 1.2. Những hạn chế trong công tác xây dựng thực đơn của nhân 5 viên trong nhà trường. 1.3. Sự cần thiết phải xây dựng thực đơn, nâng cao chất lượng 6 dinh dưỡng cho trẻ Mầm non. 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 6 2.1. Tên các giải pháp 6 2.2. Cách thức thực hiện từng giải pháp 7 3. Kết quả sau khi áp dụng sáng kiến tại đơn vị 17 4. Hiệu quả của sáng kiến 18 4.1. Hiệu quả về khoa học 18 4.2. Hiệu quả về kinh tế 18 4.3. Hiệu quả về xã hội 18 5. Tính khả thi 19 6. Thời gian thực hiện đề tài sáng kiến 19 7. Kinh phí thực hiện đề tài sáng kiến 19 PHẦN III: KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 20 1. Kiến nghị 20 2. Đề xuất 20
  8. 8 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. 1.1. Cơ sở lý luận: Công tác chăm sóc và nuôi dạy thế hệ trẻ luôn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Trên thế giới, nhiều quốc gia đều có chiến lược dài hạn về việc chăm lo bồi dưỡng thế hệ sau này. Tại Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nhấn mạnh trong bài nói chuyện với lớp đào tạo cán bộ Mẫu giáo năm 1959: "Dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non được tốt thì sau này cây lớn lên mới tốt." Việc thực hiện tốt công tác chăm sóc, giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non không chỉ giúp trẻ phát triển khỏe mạnh mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước. Trẻ em phát triển rất nhanh, đặc biệt là về chiều cao và cân nặng, vì vậy cần được cung cấp một lượng dinh dưỡng hợp lý. Tuy nhiên, hiện nay tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam vẫn còn khá cao, điều này ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ. Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ. Trẻ em được nuôi dưỡng tốt sẽ phát triển nhanh chóng, khỏe mạnh, thông minh và học giỏi. Ngược lại, nếu chế độ dinh dưỡng không hợp lý, trẻ sẽ còi cọc, chậm lớn, dễ mắc bệnh và ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện. Suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi chủ yếu do sự kết hợp của nhiều yếu tố như thiếu kiến thức về dinh dưỡng, thiếu ăn và bệnh tật. Tuy nhiên, nguyên nhân chính vẫn là do việc nuôi dưỡng không hợp lý, cho trẻ ăn vô nguyên tắc, chỉ theo sở thích mà không chú ý đến việc phối hợp thực phẩm hợp lý, không đảm bảo vệ sinh, hoặc kết hợp với các bệnh nhiễm khuẩn như sởi, viêm đường hô hấp, biếng ăn. Ngoài ra, cho trẻ ăn dặm quá sớm hay quá muộn cũng có thể gây rối loạn tiêu hóa và làm giảm khả năng hấp thụ dinh dưỡng. Do đó, việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ là rất cần thiết và là trách nhiệm không chỉ của gia đình mà còn của nhà trường và giáo viên. Một chế độ dinh dưỡng hợp lý sẽ giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và sức khỏe, góp phần vào sự nghiệp giáo dục của đất nước. Để có chế độ dinh dưỡng hợp lý, việc xây dựng thực đơn cân đối và đầy đủ dinh dưỡng cho trẻ ở lứa tuổi mầm non là vô cùng quan trọng. 1.2. Cơ sở thực tiễn: Thực tế hiện nay trẻ em Việt Nam tỉ lệ suy dinh dưỡng còn khá cao đó chính là nỗi băn khoăn của toàn xã hội, các cấp lãnh đạo cũng như các nhà trường. Muốn phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ được tốt không phải đợi khi trẻ lớn mà chúng ta phải phòng chống khi trẻ còn trong trứng, trong thời kỳ bào thai đến khi sinh ra và lớn lên. Bên cạnh đó, do bận công việc nên nhiều gia đình chưa chú trọng đến chế độ ăn cho trẻ đủ chất khoa học và hợp lí mà chỉ sử dụng các thực phẩm ăn nhanh chế biến sẵn hoặc chủ yếu là thịt, để chế biến các món ăn hàng ngày. Vì vậy, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến dễ nhiễm những chứng bệnh như ngộ độc, đi ngoài và bệnh rối loạn tiêu hóa đang có trong xã hội hiện nay.
  9. 9 Việc tính định lượng Calo và tỉ lệ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của trẻ của các trường Mầm Non đã đi vào nề nếp và có chất lượng. Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng bữa ăn, các trường tính lượng Can xi, vitamin B1 trong khẩu phần ăn của trẻ. Việc thực hiện của các trường trong thành phố nói chung cũng đã có nhiều cải tiến chế biến xây dựng thực đơn phối hợp nhiều thực phẩm phong phú có giá trị dinh dưỡng cao, song sự phối kết hợp giữa xây dựng thực đơn và cải tiến còn chưa được chú trọng và thực hiện thường xuyên để đảm bảo định lượng cần thiết của Vitamin và khoáng chất. Ngoài ra, còn chú ý đưa thực phẩm giàu lượng Sắt và Vitamin A vào bữa ăn của trẻ để góp phần xây dựng thực đơn đảm bảo dinh dưỡng trong trường mầm non. Tại trường mầm non nơi tôi công tác, việc xây dựng thực đơn đạt về lượng, cân đối về chất giúp trẻ phát triển thể lực và trí lực căn cứ vào những nội dung sau: Thực đơn cần đảm bảo đủ lượng Calo, cân đối các chất Protein – Lipid – Glucid, thực đơn đa dạng, phong phú, kết hợp nhiều loại thực phẩm, theo mùa, phù hợp với nguồn thực phẩm tại địa phương, đảm bảo chế độ tài chính và vệ sinh an toàn thực phẩm. Tại trường, các cháu được ăn mức 20.000 đồng/ngày. Chế độ này được áp dụng đại trà cho tất cả học sinh nhà trẻ và mẫu giáo. Với mức ăn này, để xây dựng một khẩu phần ăn đủ chất dinh dưỡng phải biết kết hợp thực phẩm như thế nào cho hợp lý, đó là cả một vấn đề mà tôi luôn quan tâm. Là người cô nuôi trực tiếp nấu ăn cho những chủ nhân tương lai của đất nước tôi nhận thấy rõ công việc của mình là vô cùng quan trọng, không những phải cần tập mà phải có cả lương tâm đạo đức nghề nghiệp để góp phần nhỏ bé của mình vào công việc chăm sóc và giáo dục trẻ toàn diện. Tạo cho đất nước một con người khỏe mạnh về thể chất, trí tuệ, thông minh, tạo nguồn nhân lực chất lượng giúp cho việc bảo tồn tinh hoa nòi giống và sự phát triển phồn vinh cho xã hội. Chính vì vậy tôi chọ đề tài” “Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non” làm đề tài sang kiến của bản thân năm học 2024-2025. 2.Mục tiêu của đề tài sáng kiến. Thông qua đề tài “Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non” nhằm cải thiện và nâng cao sức khỏe, tránh được các nguy cơ, các tác nhân gây bệnh mãn tính tạo cơ sở cho sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ cho trẻ. Cung cấp cho nhân viên nuôi dưỡng các kiến thức sâu hơn, tự tìm tòi và xây dựng thực đơn chế biến các món ăn cho trẻ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng các mục tiêu kế hoạch phát triển giáo dục trong thời kỳ mới làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm cho bản thân trong năm học 2024 - 2025. Đồng thời tạo niềm tin đối với phụ huynh khi gửi con em mình tới trường. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 3.1. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025.
  10. 10 3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng dinh dưỡng cho trẻ trong trường mầm non. 3.3. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cúu trên 213 trẻ mầm non từ 18 tháng đến 72 tháng tuổi tại trường mầm non Châu Sơn. 3.4. Số liệu điều tra trước khi thực hiện: Để thực hiện tốt các nội dung trong việc xây dựng thưc đơn, nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non, ngay sau khi khai giảng, ổn định trẻ tại các lớp, tôi đã tiến hành thu thập số liệu, qua theo dõi tôi đã có đầy đủ bảng khảo sát sau: * Bảng khảo sát cân đo chấm biểu đồ đầu năm của trẻ: Nội dung khảo sát Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ cân đo 213 100% Số trẻ có cân nặng bình thường 200 93.8% Số trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 8 3,7% Số trẻ thừa cân, béo phì 5 2,4% Số trẻ có chiều cao bình thường 205 96.2% Số trẻ thấp còi 8 3,8% Qua bảng khảo sát trên tôi nhận thấy: Số trẻ có cân nặng bình thường, số trẻ có chiều cao bình thường chiếm tỷ lệ chưa cao (91,4 % và 91,9 %). Trong khi số trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng (4,3%), số trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (3,3%), số trẻ có nguy cơ bi suy dinh dưỡng thể thấp còi (4,8%), số trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi (3,3%) là vẫn còn cao, vẫn còn 2 trẻ thừa cân chiếm tỷ lệ là 1%. Khi tập hợp được kết quả chấm biểu đồ về cân nặng chiều cao của trẻ đầu năm, tôi đặt ra cho mình mục tiêu là tìm ra các biện pháp để xây dựng thực đơn đạt về lượng, cân đối về chất để tăng tỷ lệ trẻ có chiểu cao, cân nặng bình thường, giảm tỷ lệ trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng, trẻ suy dinh dưỡng ở thể nhẹ cân và thấp còi, trẻ thừa cân, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường. PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng của vấn đề: 1.1 Đặc điểm tình hình: Trường mầm non tôi công tác là một trường nhỏ, trẻ tập trung tại một điểm trường. Trong năm học vừa qua, nhà trường đã rất quan tâm và chú trọng tới công tác
  11. 11 chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Chính vì vậy chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ngày càng đạt kết quả cao. Đảm bảo 100% trẻ ăn bán trú tại trường, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi, béo phì đã giảm so với năm học trước, không để tình trạng ngộ độc thực xảy ra tại trường, thường xuyên thay đổi thực đơn đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ tại trường. Tuy nhiên Ban giám hiệu, giáo viên, nhân viên chúng tôi vẫn cần phải nỗ lực hơn nữa để chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ngày càng đạt được nhiều kết quả tốt hơn. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, tôi gặp những thuận lợi và khó khăn sau: 1.1.1. Thuân lợi: Trường Mầm non tôi làm việc luôn nhận được sự quan tâm đầu tư của các cấp, các ngành và sự ủng hộ nhiệt tình của các bậc phụ huynh học sinh. Bếp được xây dựng khang trang, rộng đẹp, thoáng mát, trang bị một số đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho công tác nuôi dưỡng theo hướng hiện đại như: Tủ lạnh, tủ cơm ga, tủ sấy bát, bình ủ ấm nước và các đồ dùng bằng inox ... Cô nuôi được trang bị đầy đủ đồ dùng vật dụng cá nhân như găng tay, tạp dề, quần áo bảo hộ, mũ, khu trang ... Được sự quan tâm của PGD huyện Ba Vì đã xây dựng đã tổ chức những buổi tập huấn kiến thức cho 100% các nhân viên nuôi dưỡng học tập và nâng cao trình độ chuyên môn qua những buổi học thực tế. Đặc biệt được sự quan tâm của Ban Giám Hiệu nhà trường xây dựng kế hoạch cụ thể, chỉ đạo sát sao tổ nuôi từng việc xây dựng thực đơn theo mùa, theo tuần và đã tìm công ty, có giấy chứng nhận và cam kết về vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo chất lượng lý nên chất lượng bữa ăn được cải thiện rõ rệt cung cấp giao nhân thực phẩm uy tín. Và trong những năm qua, trường mầm non chúng tôi đã thực hiện có hiệu quả việc tính khẩu phần ăn trên phần mềm Gokids. Đội ngũ cô nuôi có trình độ trên chuẩn, trẻ khỏe, năng động, có tinh thần trách nhiệm cao, luôn đoàn kết, giúp đỡ nhau trong công việc, yêu nghề, mếm trẻ. Luôn tìm hiểu và không ngừng học hỏi những kiến thức để nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ngày càng phong phú đa dạng đẹp mắt hơn, đảm bảo bữa ăn của trẻ đủ lượng, đủ chất. Tỷ lệ học sinh đi học chuyên cần cao, 100% trẻ ăn bán trú tại trường. Đa số phụ huynh là người địa phương nên việc trao đổi thông tin rất thuận lợi. 1.1.2. Khó khăn: Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài những thuận lợi trên, tôi nhận thấy còn có một số khó khăn sau: - Để đảm bảo định lượng canxi B1 theo chuẩn đã đề ra, thì khi xây dựng thực đơn cũng mất rất nhiều thời gian và công sức trong việc cân đối lựa chọn thực phẩm cho phù hợp.
  12. 12 - Các thực phẩm giàu canxi B1 phối hợp không khéo léo linh hoạt dẫn đến trẻ khó ăn. - Về cách chế biến: Phải có kiến thức chế biến thực phẩm một cách khoa học để đảm bảo không làm hao hụt lượng Canxi, Vitamin - Tài liệu tham khảo dành cho các cô nuôi còn ít. Chế biến các món ăn phù hợp với từng độ tuổi để trẻ ăn được hết suất, phải cân đối tỷ lệ giữa các bữa sáng, trưa, chiều, luôn đảm bảo nguồn vitamin, khoáng chất, vi khoáng và dưỡng chất cần thiết vừa đủ giữa các nhóm tuổi. Do đặc điểm của địa phương là một xã thuần nông, kinh tế chủ yếu dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp nên đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Do đó, những kiến thức về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của người dân còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, một số phụ huynh đi làm xa nên chưa thực sự quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng con em mình ở gia đình cũng như ở nhà trường. Mức tiền ăn của trẻ còn hơi thấp nên cũng gặp khó khăn trong việc tính khẩu phần ăn và cân đối tỷ lệ các chất dinh dưỡng cho trẻ. Phải xây dựng thực đơn theo chế độ ăn cho nhiều độ tuổi gây khó khăn cho việc xây dựng thực đơn. 1.1.3. Những hạn chế trong công tác xây dựng thực đơn của nhân viên trong nhà trường. Mặc dù hàng năm, nhà trường luôn quan tâm và sát sao trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, nhưng do mức ăn của trẻ các năm học trước còn chưa cao, việc xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn hàng ngày chưa thật sự đạt kết quả như mong muốn. Thực đơn của các tuần chẵn và các tuần lẻ còn có sự giống nhau. Các món ăn còn đơn điệu, chưa có sự kết hợp khéo léo và hợp lý giữa các loại thực phẩm, thường áp dụng trong nhiều tháng khiến trẻ cảm thấy nhàm chán, không có sự hứng thú cao trong bữa ăn. Màu sắc một số món ăn chưa hấp dẫn nên chưa gây hứng thú cho trẻ. Một số thực đơn chưa kết hợp thực phẩm có giá thành cao với thực phẩm có giá thành thấp đảm bảo tài chính mà vẫn cân đối các chất. Chưa tích cực trong việc nắm bắt tấm lý, tìm hiểu thói quen, sở thích ăn uống của trẻ để lên thực đơn phù hợp nhất 1.4. Phân tích nhược điểm xây dựng thực đơn, nâng cao chất lượng bữa ăn nuôi dưỡng trẻ. Một trong những đáng chú ý trong chế độ ăn hiện nay là mức ăn chưa cao và phần ăn chưa thật sự đạt kết quả như mong muốn. Đầu tiên, mức ăn chưa cao thường phản ánh sự thiếu hụt về lượng dinh dưỡng thiết yếu mà cơ thể cần để duy trì năng lượng và sức khỏe. Việc không cung cấp đủ các nhóm chất như protein, vitamin, khoáng chất, và chất xơ có thể dẫn đến tình trạng suy giảm sức khỏe tổng thể, bao gồm mệt mỏi, suy nhược cơ thể, và khả năng miễn dịch kém. Hơn nữa, phần ăn chưa đạt kết quả như mong muốn có thể chỉ ra sự thiếu hiệu quả trong việc xây dựng một chế độ ăn khoa học, phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của từng cá nhân. Bên cạnh việc hỗ trợ sự phát triển về thể chất và trí tuệ, một
  13. 13 thực đơn khoa học còn giúp trẻ hình thành thói quen ăn uống lành mạnh từ khi còn nhỏ, tạo nền tảng vững chắc cho sức khỏe lâu dài. Những thói quen ăn uống này sẽ đi theo trẻ suốt cuộc đời, giúp phòng ngừa các bệnh lý về dinh dưỡng như béo phì, suy dinh dưỡng hay các vấn đề liên quan đến thiếu hụt vitamin và khoáng chất. Ngoài ra, một thực đơn dinh dưỡng hợp lý còn giúp củng cố hệ miễn dịch, giảm nguy cơ mắc phải các bệnh lý thường gặp trong giai đoạn trẻ em. Do đó, xây dựng một thực đơn dinh dưỡng phù hợp không chỉ. Việc lặp lại những món ăn giống nhau trong một thời gian dài không chỉ làm giảm sự đa dạng trong khẩu vị mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển tâm lý và dinh dưỡng của trẻ. Bên cạnh đó, thực đơn trùng lặp còn có thể dẫn đến việc thiếu hụt các nhóm chất dinh dưỡng khác nhau. Để khắc phục tình trạng này, việc thay đổi thực đơn hàng ngày là rất cần thiết. Cần sáng tạo trong việc kết hợp các nguyên liệu tươi ngon, đa dạng các món ăn từ nhiều nhóm thực phẩm khác nhau, vừa đảm bảo cung cấp đủ dưỡng chất, vừa giúp trẻ cảm thấy thú vị và hứng khởi khi mỗi bữa ăn đến. Thực đơn đa dạng không chỉ giúp trẻ có đủ chất dinh dưỡng mà còn giúp phát triển khẩu vị, kích thích sự yêu thích ăn uống của trẻ, từ đó góp phần vào sự phát triển khỏe mạnh và toàn diện của trẻ trong tương lai 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề. 2.1. Tên các giải pháp: Giải pháp 1: Tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân. Giải pháp 2: Xây dựng thực đơn khoa học, cân đối đảm bảo khẩu phần ăn cho trẻ. Giải pháp 3: Nghiêm túc thực hiện quy trình giao nhận thực phẩm và cách lựa chọn thực phẩm tươi ngon. Giải pháp 4: Ưng dụng công nghệ thông tin vào tính khẩu phần ăn hàng ngày. Giải pháp 5: Cải tiến cách chế biến món ăn. Giải pháp 5: Sử dụng phần mềm tính khẩu phần ăn hàng ngày của trẻ. Giải pháp 6: Đảm bảo an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm. Giải pháp 7: Phối hợp với giáo viên tổ chức bữa ăn cho trẻ và tìm hiểu tâm lý trẻ. 2.2. Cách thức thực hiện từng giải pháp: 2.2.1. Giải pháp 1: Tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân. Việc xây dựng thực bữa ăn cho trẻ em không chỉ là một nhiệm vụ đơn giản mà đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng, sáng tạo và cập nhật thông tin thường xuyên. Để đảm bảo thực đơn luôn đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, bản thân tôi không ngừng học hỏi và bồi dưỡng kiến thức thông qua nhiều hình thức như việc tham gia các hội thi "Nhân viên nuôi dưỡng giỏi" cấp trường và cấp
  14. 14 huyện là một trong những cơ hội giúp tôi học hỏi và phát triển bản thân. Qua mỗi hội thi, tôi luôn tìm tòi nghiên cứu, xây dựng thực đơn và được Ban Giám hiệu nhà trường duyệt, áp dụng thực tế tại các sự kiện này. Minh chứng 1: Hình ảnh hội thi nhân viên giỏi cấp trường Qua mỗi hội thi, tôi không chỉ rút ra được nhiều kinh nghiệm mà còn nhận ra rằng chỉ có lòng nhiệt huyết và yêu nghề thôi chưa đủ. Để làm tốt công việc xây dựng thực đơn cho trẻ, chúng ta cần tự học, trau dồi kiến thức và kỹ năng chuyên môn để mang đến cho trẻ những bữa ăn ngon, bổ dưỡng, phù hợp với lượng và chất theo yêu cầu dinh dưỡng. Tôi cũng tham gia các lớp tập huấn chuyên đề nuôi dưỡng do phòng giáo dục và nhà trường tổ chức. Đặc biệt, năm nay tôi có cơ hội tiếp thu chuyên đề “Lớp bồi dưỡng nghiệp vụ nấu ăn chuyên nghiệp trong trường mầm non” tại huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội. Buổi học này đã giúp tôi nâng cao kỹ năng xây dựng thực đơn và chế biến món ăn, đồng thời học hỏi thêm từ các trường bạn về cách bổ sung món rau xào vào bữa ăn cho trẻ, giúp khẩu phần ăn thêm cân đối và đầy đủ dinh dưỡng. Minh chứng 1: Hình ảnh buổi tiếp thu chuyên đề lớp bồi dưỡng nghiệp vụ nấu ăn chuyên nghiệp tại Huyện tại trường Thụy An. Với phương châm đôi bạn cùng tiến, tôi các cô nuôi dưỡng trong nhà trường đã xây dựng nhóm bồi dưỡng chuyên môn. Hàng tuần chúng tôi cùng nhìn lại, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, những vướng mắc về xây dựng thực đơn để nâng cao năng lực, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, biến những khó khăn, thách thức trong nghề thành những cơ hội để khẳng định phẩm chất, năng lực của bản thân trước phụ huynh, đồng nghiệp. “Làm thế nào để xây dựng thực đơn đa dạng?”, “Làm sao để món ăn hấp dẫn trẻ?” được chúng tôi cùng tìm kiếm giải pháp. Nhờ đó, tôi đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu từ các đồng nghiệp và áp dụng vào công việc của mình. Việc học tập cần phải đi đôi với thực hành. Vì vậy, tôi thường xuyên thử nghiệm những món ăn mới đã học được cho các cháu nhỏ trong gia đình mình, đặc biệt là những trẻ ở độ tuổi mầm non. Sau mỗi lần thử nghiệm, tôi theo dõi và đánh giá kết quả, từ đó rút ra kinh nghiệm trong việc phối hợp các loại thực phẩm, xây dựng thực đơn đầy đủ dinh dưỡng và kích thích vị giác của trẻ. Thông qua quá trình tự học, tự nghiên cứu và bồi dưỡng chuyên môn, tôi đã xây dựng thành công thực đơn cân đối, đầy đủ dinh dưỡng cho trẻ tại trường. Các món ăn không chỉ đảm bảo chất lượng dinh dưỡng mà còn hấp dẫn và phù hợp với độ tuổi của trẻ. Qua đó, trẻ không chỉ ăn ngon mà còn phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ. Công việc xây dựng thực đơn và chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ đã trở nên tự tin và hiệu quả hơn nhờ những kiến thức và kỹ năng tôi đã học hỏi được. * Kết quả: Việc tích cực tự học và bồi dưỡng chuyên môn đã giúp tôi nâng cao trình độ trong công tác xây dựng thực đơn cho trẻ, mang lại những bữa ăn bổ dưỡng, cân đối và hấp dẫn. Thông qua quá trình học hỏi và thực hành, tôi không chỉ nâng cao
  15. 15 kỹ năng mà còn tự tin hơn trong công việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non, góp phần tạo ra một môi trường học tập và phát triển toàn diện cho các em. 2.2.2. Giải pháp 2: Xây dựng thực đơn khoa học, cân đối đảm bảo khẩu phần ăn cho trẻ. Xây dựng thực đơn đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển và đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ. Một thực đơn dinh dưỡng khoa học và đầy đủ sẽ cung cấp cho trẻ những dưỡng chất cần thiết để tăng cường hệ miễn dịch, giúp trẻ phòng ngừa các bệnh tật và nhiễm trùng. Việc đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý giúp trẻ giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn hoặc các bệnh lý liên quan đến dinh dưỡng như thiếu vitamin, suy dinh dưỡng, hoặc béo phì. Khi xây dựng thực đơn, tôi luôn chú trọng: Xác định nhu cầu dinh dưỡng theo độ tuổi: Căn cứ thông tư 17/2009/TT-BGĐT BGDĐT ngày 14/3/2017(điều chỉnh lại điểm D khoản 2 điều 1 Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT) với nội dung: * Đối với trẻ nhà trẻ: - Xây dựng chế độ ăn, khẩu phần ăn phù hợp với độ tuổi : + Nhu cầu khuyến nghị năng lượng của 1 trẻ trong một ngày là: 930 - 1000 Kcal. + Nhu cầu khuyến nghị năng lượng tại trường của 1 trẻ trong một ngày chiếm 60 - 70% nhu cầu cả ngày: 600 - 651 Kcal. - Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục mầm non: Hai bữa chính và một bữa phụ. + Năng lượng phân phối cho các bữa ăn: Bữa ăn buổi trưa cung cấp từ 30% đến 35% năng lượng cả ngày. Bữa ăn buổi chiều cung cấp từ 25% đến 30% năng lượng cả ngày. Bữa phụ cung cấp khoảng 5% đến 10% năng lượng cả ngày. + Tỉ lệ các chất cung cấp năng lượng được khuyến nghị theo cơ cấu: Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 13% - 20% năng lượng khẩu phần. Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 30% - 40% năng lượng khẩu phần Chất bột (Gluxit) cung cấp khoảng 47% - 50% năng lượng khẩu phần. - Nước uống: khoảng 0,8 lít – 1,6 lít/trẻ/ngày (kể cả nước trong thức ăn). - Xây dựng thực đơn hằng ngày, theo tuần, theo mùa. * Đối với trẻ mẫu giáo: - Xây dựng chế độ ăn, khẩu phần ăn phù hợp với độ tuổi: + Nhu cầu khuyến nghị năng lượng của 1 trẻ trong một ngày là: 1230 - 1320 Kcal.
  16. 16 + Nhu cầu khuyến nghị năng lượng tại trường của 1 trẻ trong một ngày chiếm 50 - 55% nhu cầu cả ngày: 615 - 726 Kcal. - Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục Mầm non. Một bữa chính và một bữa phụ. + Năng lượng phân phối cho các bữa ă n: Bữa chính buổi trưa cung cấp từ 30% đến 35% năng lượng cả ngày. Bữa phụ cung cấp từ 15% đến 25% năng lượng cả ngày. + Tỉ lệ các chất cung cấp năng lượng theo cơ cấu: Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 13% - 20% năng lượng khẩu phần. Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 25% - 35% năng lượng khẩu phần. Chất bột (Gluxit) cung cấp khoảng 52% - 60% năng lượng khẩu phần. - Nước uống: Khoảng 1,6 - 2,0 lít/trẻ/ngày (kể cả nước trong thức ăn). - Xây dựng thực đơn hàng ngày, theo tuần, theo mùa. Xây dựng thực đơn hàng ngày, theo tuần, theo mùa để bé làm quen với nhiều món ăn mới lạ và để điều hòa thực đơn, để trẻ hứng thú khi ăn. Khi thay đổi thực đơn tôi đã lưu ý đến việc thay thế nguyên liệu trong cùng một nhóm. Khi xây dựng thực đơn cho trẻ, tôi luôn thực hiện theo nguyên tắc: Đảm bảo cho khẩu phần đáp ứng đủ về nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết. Đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa các chất sinh năng lượng. Cân đối tỷ lệ đạm động vật và thực vật, mỡ động vật và dầu thực vật, cân đối các loại vitamin và chất khoáng. Xây dựng thực đơn theo mùa, phù hợp với sở thích của trẻ. Ví dụ vào mùa hè, cần ưu tiên các món nhiều nước, thanh mát, tăng cường các loại hoa quả ; vào mùa đông, có thể bổ sung các món chiên xào hoặc hầm nhừ. Các loại thực phẩm tiêu biểu của mùa nào nên ưu tiên sử dụng của mùa đó, không nên sử dụng thực phẩm trái mùa. Thức ăn nên được cắt nhỏ để trẻ dễ nhai, dễ tiêu hóa. Lựa chọn thực phẩm an toàn trước khi chế biến. Các loại thịt cá, rau củ phải đảm bảo tươi sống, không ôi thiu, không chứa các loại hóa chất gây hại cho sức khỏe của trẻ. Sau mỗi lần lên được thực đơn, tôi lại xin ý kiến từ đồng chí hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng. Áp dụng thực đơn đã lên tính khẩu phần ăn hàng ngày cho trẻ. Qua các bữa ăn tại trường tôi ghi chép, dõi những phản ứng từ trẻ về thực đơn tôi đưa ra. Xem trẻ có thích ăn những món ăn mới như trong thực đơn hay không, trẻ có tăng cân và phát triển cân đối hơn hay không. Sau mỗi lần lên được thực đơn, tôi lại xin ý kiến từ đồng chí hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng. Áp dụng thực đơn đã lên tính khẩu phần ăn hàng ngày cho trẻ. Qua các
  17. 17 bữa ăn tại trường tôi ghi chép, dõi những phản ứng từ trẻ về thực đơn tôi đưa ra. Xem trẻ có thích ăn những món ăn mới như trong thực đơn hay không, trẻ có tăng cân và phát triển cân đối hơn hay không. Minh chứng 2: Thực đơn mùa đông, mùa hè năm học 2024 – 2025 *Kết quả: Tôi đã biết phối hợp các loại thực phẩm để xây dựng thực đơn cho trẻ phong phú, ít bị trùng lặp món ăn, đảm bảo đủ chất dinh dưỡng cho trẻ, thường xuyên thay đổi, sáng tạo các món mới phù hợp với chế độ dinh dưỡng và sở thích của các bé nhờ đó các bé ăn ngon miệng hơn và ăn hết xuất 2.2.3. Biện pháp 3: Nghiêm túc thực hiện quy trình giao nhận thực phẩm và cách lựa chọn đa dạng, phối hợp các loại thực phẩm để có nhiều món ăn ngon, đủ chất dinh dưỡng cho trẻ Đời sống của chúng ta ngày càng được nâng cao nhưng xen vào đó là các loại thực phẩm không rõ nguồn gốc hoặc các sản phẩm mà nhà sản xuất, chế biến đã sử dụng các chất phụ gia như: Phẩm màu, đường hóa học đang bị lạm dụng...Cho lên trong quá trình lựa chọn các nguyên liệu cho các con cần phải nghiêm túc và thận trọng. *Quy trình giao nhận thực phẩm: Giao nhận thực phẩm trực tiếp bao gồm cả giao nhận thực phẩm hàng kho và hàng tươi sống nhận trong ngày, ghi rõ thời gian nhận lần 1 và lần 2 đủ các thành phần, chữ ký theo quy định tại sổ kiểm thực 3 bước. Người giao hàng bàn giao số lượng và chất lượng thực phẩm. Người đứng nấu trực tiếp ngày hôm đó thực phẩm và ghi sổ thực phẩm, kiên quyết không nhận thực phẩm kém chất lượng, héo úa, không đủ chất lượng nhập trả lại luôn cho nhà cung cấp. Ban giám hiệu luôn phiên xuống giám sát giao nhận thực phẩm. Thực phẩm có nguồn gốc rõ rang, có hóa đơn chứng từ đầy đủ, chỉ nhận thực phẩm đảm bảo chất lượng. Giáo viên trên lớp được phân công xuống kiểm tra số lượng chất lượng thực phẩm đủ, đúng số lượng, phụ huynh giám sát. Minh chứng 3: Hình ảnh giao nhận thực phẩm sống hàng ngày Thực phẩm bổ xung cũng phải có kiểm tra về chất lượng và số lượng đầy đủ vào sổ *Cách lựa chọn đa dạng, phối hợp các loại thực phẩm để có nhiều món ăn ngon, đủ chất dinh dưỡng cho trẻ. Như chúng ta đã biết, không có một loại thức ăn nào là toàn diện và có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể của trẻ. Mỗi loại thức ăn có chứa một số chất dinh dưỡng với tỷ lệ khác nhau. Chính vì vậy, bữa ăn hàng ngày của trẻ cần đa dạng,
  18. 18 phối hợp nhiều loại thực phẩm (tốt nhất là có trên 10 loại thực phẩm), khi đó các chất dinh dưỡng sẽ bổ sung từ các loại thức ăn khác nhau, giúp cho giá trị sử dụng của thức ăn sẽ tăng lên. Bữa ăn có thành phần dinh dưỡng hợp lý là bữa ăn có đủ từ 4 nhóm thực phẩm cung cấp các chất dinh dưỡng và ở tỷ lệ thích hợp. Bốn nhóm thực phẩm chính bao gồm: Nhóm chất bột đường; Nhóm chất đạm; Nhóm chất béo; Nhóm vitamin và khoáng chất. Mỗi nhóm thức ăn trên không chỉ có một chất mà thường đồng thời cung cấp nhiều chất dinh dưỡng khác nhau. Ba nhóm thực phẩm cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động sống của con người gồm chất bột đường, đạm, chất béo. Nhóm thứ 4 – nhóm Vitamin và khoáng chất không cung cấp năng lượng nhưng vô cùng quan trọng, khi thiếu sẽ gây những hậu quả xấu cho sức khỏe của trẻ. Phối hợp các loại ngũ cốc khác nhau: Nhóm chất bột đường gồm ngũ cốc là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động. Trong nhóm ngũ cốc thì gạo là lương thực phổ biến được sử dụng nhiều nhất. Tôi đã tham mưu với ban giám hiệu và hiệu phó nuôi dưỡng lựa chọn gạo không xay xát quá kỹ cho bữa ăn hàng ngày của trẻ. Ngoài ra, tôi thay đổi các loại ngũ cốc khác nhau để chế biến thành các món ăn vào bữa phụ chiều của trẻ như mì sợi, gạo nếp cẩm, bột mì . để làm đa dạng bữa ăn và các chất dinh dưỡng, tăng cường lợi ích cho sức khỏe của trẻ. Phối hợp thức ăn nguồn đạm động vật và thực vật: Nên ăn cá, tôm, cua và đậu, đỗ. Nhóm chất đạm gồm thịt, cá, hải sản, trứng, sữa, đậu, đỗ, lạc cung cấp các acid amin, trong đó có 9 acid amin thiết yếu mà cơ thể không tự tổng hợp được mà phải lấy từ thực phẩm. Trong khẩu phần ăn nên có tỷ lệ thích hợp đạm động vật và đạm thực vật tùy theo độ tuổi như đối với trẻ dưới 1 tuổi là tỷ lệ đạm động vật/tổng số đạm là 70%, trẻ 1-5 tuổi là 60% và trẻ 6-9 tuổi là 50%, trẻ 12-19 tuổi là 35%. Trong quá trình xây dựng thực đơn, tôi luôn bổ sung mỗi tuần một bữa cá hoặc tôm biển vào bữa chính trưa của trẻ. Không chỉ lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc đạm động vật mà tôi còn lựa chọn thêm thực phẩm có nguồn gốc đạm thực vật như đậu phụ để chế biến thành món thịt đậu 3 màu hay thịt đậu sốt cà chua. Ngoài ra, mỗi tuần thực đơn tôi xây dựng đều được bổ sung các món ăn từ trứng gà, trứng cút như món trứng thịt đảo bông, hay trứng cút kho thịt. Các món ăn trên đều có sự kết hợp với thịt lợn để cân bằng các chất. Với món canh bí đỏ hay món cháo, món xôi tôi bổ sung thêm đậu xanh. Hoặc kết hợp món cháo thịt lợn bí đỏ với lạc, vừng. Trẻ cần được ăn phối hợp dầu thực vật và mỡ động vật hợp lý: Nhóm chất béo (mỡ động vật và dầu thực vật) giúp cơ thể hoạt động và tăng trưởng, cung cấp năng lượng, hỗ trợ hấp thu các vitamin tan trong dầu, mỡ như vitamin A, D, E, K. Chất béo tham gia trong cấu trúc tế bào của một số tổ chức, đặc biệt là não, màng tế bào, màng nhân và các nội quan trong tế bào. Cần phối hợp mỡ động vật và dầu thực vật hợp lý để có tỷ lệ acid béo bão hòa chiếm 10% năng lượng khẩu phần và 10-15% năng lượng khẩu phần do acid béo chưa bão hòa. Nhu cầu chất béo của trẻ:
  19. 19 Trong sữa mẹ chất béo chiếm trên 50% tổng các dưỡng chất sinh năng lượng. Trẻ nhỏ dưới 5 tuổi chất béo chiếm khoảng 40% tổng năng lượng khẩu phần (3- 4 g/kg cân nặng). Trẻ trên 5 tuổi chất béo chiếm 30% tổng năng lượng khẩu phần. Cung cấp năng lượng ở dạng đậm đặc nhất, một gam chất béo có 9 kcal năng lượng. Khi xây dựng thực đơn, cân đối khẩu phần ăn cho trẻ, tôi đều kết hợp tính toán lượng dầu ăn cần thiết cũng như lượng thực phẩm có chứa mỡ động vật như thịt lợn, cá, thịt gà, ngan đồng thời bổ sung thêm lạc, vừng vào các bữa phụ chiều của trẻ như món xôi thịt đậu xanh, lạc vừng, món cháo bí đỏ lạc vừng hay món chè hoa cau hạt sen kết hợp với vừng, để cân đối lượng mỡ động vật và dầu thực vật trong thực đơn của trẻ. Tôi phối hợp các loại rau, quả trong thực đơn của trẻ: Trong rau, quả chứa các biolanoid có vai trò chống oxy hóa, làm giảm nguy cơ đối với bệnh tim mạch và ung thư. Các loại quả có ưu điểm là có nhiều chất dinh dưỡng và vitamin và không bị hao hụt do không cần phải chế biến. Cần phối hợp các loại rau, quả khác nhau để có đủ các vitamin, khoáng chất, các chất chống oxy hóa, các chất xơ cần thiết cho cơ thể. Vì thế bữa ăn cho trẻ nên sử dụng rau, ăn ngay sau khi nấu xong là cách tốt nhất để bảo toàn lượng vitamin C trong rau. Rau và quả chín còn là nguồn cung cấp chất xơ quý, có tác dụng chống táo bón và phòng xơ vữa động mạch. Ví dụ như với bữa phụ chiều của trẻ, ngoài các món ăn do các cô nuôi chế biến ra, tôi còn bổ sung thêm quả chín như đu đủ, chuối tiêu để cung cấp thêm vitamin, khoáng chất cho trẻ. Hay với bữa chính trưa của trẻ mẫu giáo: với món mặn là thịt gà nấu cà ri, canh rau cải nấu thịt, tôi sẽ bổ sung thêm món su hào, cà rốt xào hay su su cà rốt xào. Với thực đơn có món mặn là cá sốt ngũ liễu, canh bí đỏ nấu thịt, Tôi lại kết hợp bổ sung thêm món rau giá xào hay bắp cải xào. Tôi bổ sung mỗi tuần thêm hai bữa rau củ xào cho trẻ mẫu giáo. Thực tế khi áp dụng, trẻ rất thích ăn các món rau xào. Minh chứng 3: Hình ảnh bữa ăn của trẻ kết hợp đa dạng các loại thực phẩm *Kết quả: Tôi đã xây dựng thực đơn tuần tháng, thực đơn phù hợp theo mùa, có chế độ ăn phù hợp cho trẻ nhà trẻ, trẻ mẫu giáo. Tiền ăn 20.000đ/ trẻ/ ngày bao gồm cả uống sữa bổ sung dinh dưỡng hàng ngày. Quản lý sổ sách nuôi dưỡng tốt, đảm bảo cập nhật đúng thời gian khớp với sĩ số trẻ đi học hàng ngày. Thực hiện tốt công tác nuôi dưỡng ở tất cả các khâu từ bếp đến các nhóm lớp. Gọi thực phẩm theo ngyên liệu đã xây dựng do Công ty THHH TM Thọ Huyền mà Nhà trường đã ký kết hợp đồng theo đúng danh sách thực phẩm nhà trường lựa chọn đưa vào sử dụng, bếp đảm bảo thực hiện theo mô hình bếp 1 chiều, đầu tư đầy đủ các trang thiết bị hiện đại, sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp, đồ dùng chế biến thực phẩm sống - chín riêng biệt. Bổ sung trang thiết bị để phục vụ giờ ăn của trẻ. Thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc nuôi dưỡng (Giao nhận thực phẩm, cân chia thực phẩm chín, có lịch phân công giáo viên giao nhận thực phẩm, có sổ giao nhận ký
  20. 20 kết đủ thành phần). Công khai thực đơn và lên bảng tài chính công khai hàng ngày, cân đối điều chỉnh thực đơn không để thừa xuất ăn. Thực đơn hàng ngày của trẻ tôi đều tính toán rất tỉ mỉ và cẩn thận để kết hợp một cách phù hợp, có hiệu quả các loại thực phẩm với nhau. Từ cách thay đổi và phối hợp như vậy, tôi nhận thấy trẻ ăn rất ngon miệng, ăn hết xuất, và còn rất hào hứng với những món ăn mà cô nuôi chế biến ra. Đặc biệt là món ăn mặn kết hợp nhiều loại củ quả hầm, hay món rau xào và quả chín. 2.2.4. Giải pháp 4: Ứng dụng công nghệ thông tin vào tính khẩu phần ăn hàng ngày của trẻ. Hiện nay, chúng ta đang sống trong thời đại 4.0, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác chăm sóc nuôi dưỡng là một việc làm quan trọng mang tính khoa học, nhằm mục đích sử dụng phân phối hợp lý tiền ăn để giảm tối đa sự thừa, thiếu tiền ăn trong ngày của trẻ, tính được lượng thực phẩm, tỷ lệ các chất dinh dưỡng cần và đủ để cung cấp cho trẻ trong các bữa ăn hàng ngày ở trường, giúp tối ưu hóa quy trình xây dựng thực đơn, đảm bảo khẩu phần ăn hợp độ tuổi cân nặng và nhu cầu năng lượng của trẻ. Được sự quan tâm của nhà trường từ những năm học trước, nhà trường đã sử dụng phần mềm Gokids để tính khẩu phần ăn cho trẻ. Tôi đã được nhà trường cử đi tập huấn sử dụng phần mềm, vì vậy ngay từ đầu năm học, nhà trường giao cho tôi hàng ngày thực hiện cân đối khẩu phần ăn cho trẻ. Để làm tốt công việc này, tôi đã thực hiện như sau: Tôi thực hiện theo đúng sự chỉ đạo của ban giám hiệu, đặc biệt là Hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng. Khi tôi xây dựng, tính toán khẩu phần ăn của trẻ đúng với thực đơn đã được xây dựng và phê duyệt. Phù hợp với mức tiền ăn của trẻ, phù hợp với lượng Calo và tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần đúng theo quy định. Tôi thường xuyên xây dựng thực đơn, tạo món ăn trên phần mềm, cân đối định lượng các chất vào các đợt thay đổi thực đơn. Để tiến hành xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn trên phần mềm Gokids tôi đã thực hiện như sau: Đăng nhập vào trang chủ của phẩn mềm, sau đó nhập tên đăng nhập, mật khẩu và mã bảo vệ, sau đó tiến hành 5 bước sau: Bước 1: Điền đầy đủ thông tin trong các mục như: “Nhà cung cấp”, “Thực phẩm trường”, “Nhập kho”. Bước 2: Thêm mới các món ăn của nhà trường, vào mục “Món ăn”. Thường là vào dịp hè, khi khối lượng công việc ít, tôi thường tranh thủ đưa ra các món ăn mới dự kiến cho năm học sau nên việc làm này với tôi không quá vất vả. Bước 3: Xây dựng thực đơn mẫu. Đây là việc làm rất quan trọng, mục này tôi có thể chọn thực đơn từ tham khảo thực đơn mẫu hoặc nhập mới.