Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp chỉ đạo đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non

pdf 18 trang Anh Túc 19/09/2026 40
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp chỉ đạo đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_bien_phap_chi_dao_dam_bao_ve_sinh_an_t.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp chỉ đạo đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non

  1. 2/19 PHẦN THỨ NHẤT : ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Lí do về mặt lí luận Luật giáo dục năm 2019 điều 23 đã viết “ Mục tiêu giáo dục mầm non nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một”. Để đạt được mục tiêu đó thì cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ; Như chúng ta biết dinh dưỡng cho trẻ trong những năm đầu đời là tiền đề, là điều kiện cần và đủ cho sự phát triển về mọi mặt sau này của trẻ. Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm là một vấn đề bức thiết trong xã hội hiện nay. Trong trường mầm non vấn đề này còn quan trọng hơn bởi trẻ em sức đề kháng và sức khỏe chưa hoàn thiện, chỉ một sai lầm nhỏ trong khâu chế biến, lựa chọn thực phẩm cũng gây nguy hiểm cho trẻ. Vì vậy các nhà trường luôn đặc biệt lưu ý đến vấn đề thực phẩm trong mỗi bữa ăn của trẻ nhằm đảm bảo an toàn cho các con, giúp các con phát triển toàn diện, tạo niềm tin cho các bậc phụ huynh khi gửi con tới trường; 1.2. Lí do về mặt thực tiễn Thực tế hiện nay tại các trường mầm non chưa có nguồn cung cấp thực phẩm tại chỗ nên chưa kiểm soát được khâu vệ sinh an toàn thực phẩm từ khi nuôi trồng đến tiêu dùng. Nhà trường hầu hết chưa có các trang thiết bị hiện đại để kiểm tra thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ,chưa có phương án lưu mẫu thực phẩm nào ưu Việt nhất để đảm bảo được an toàn khi có ngộ độc thực phẩm sảy ra; Trong mấy năm gần đây rất nhiều vụ ngộ độc thực phẩm sảy ra tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số tỉnh lân cận ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của trẻ và tạo ra tâm lý hoang mang cho phụ huynh khi gửi con vào trường mầm non. Vì Vậy với cương vị, trách nhiệm của một người phó hiệu trưởng phụ trách công tác chăm sóc- nuôi dưỡng Tôi nhận thức được công tác quản lý, chỉ đạo đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường rất cần thiết, đây là một nhiệm vụ trọng tâm trong năm học. Nếu làm tốt công tác này trẻ khỏe mạnh, phát triển toàn diện, phụ huynh tin tưởng vào nhà trường.Chính vì vậy Tôi đã chọn đề tài “Biện pháp chỉ đạo đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ trong trường mầm non” là đề tài sáng kiến kinh nghiệm của Tôi trong năm học này. 2. Mục đích nghiên cứu Tìm ra các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường, nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường nhằm giúp cán
  2. 3/19 bộ, giáo viên nhân viên trong nhà trường có thêm kinh nghiệm trong công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Tạo niềm tin của phụ huynh khi gửi con em mình tới trường. 3. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp chỉ đạo đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ tại trường mầm non 4. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm Cán bộ, 18 giáo viên khối mẫu giáo, nhân viên trong trường 162 trẻ mẫu giáo tại trường mầm non Tôi công tác 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp trao đổi trực tiếp qua thực tiễn; Phương pháp kiểm tra đánh giá chất lượng thực phẩm hàng ngày; Phương pháp đánh giá sức khoẻ qua biểu đồ tăng trưởng từng giai đoạn và khám sức khoẻ định kỳ hàng năm; Phương pháp quan sát; Phương pháp thống kê toán học 6. Phạm vi nghiên cứu và Kế hoạch nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu: 162 trẻ mẫu giáo, cán bộ, 18 giáo viên mẫu giáo, nhân viên tại trường mầm non Tôi công tác Kế hoạch nghiên cứu: Từ tháng 9/2020 đến tháng 4/2021 và những năm tiếp theo 7. Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài Ngay từ đầu năm học Tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát giáo viên khối mẫu giáo, nhân viên và trẻ về công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để đưa ra những biện pháp kịp thời nâng cao hiểu biết về vệ sinh an toàn thực phẩm cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, trẻ tại trường Tôi công tác nhằm nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường. Bảng khảo sát đầu năm ( Đính kèm SKKN) PHẦN II : CÁC BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Một số nội dung lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu Luật số 55/2010/QH12 của Quốc Hội ban hành Luật an toàn thực phẩm. Luật này quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm; thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm; trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
  3. 4/19 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm” Nghị định số 155/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2018 của chính phủ về “ Sửa đổi bổ sung một số quy định liên quan đến đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ y tế. Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04/09/2018 của Chính Phủ về “ Quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm” Chỉ thị số 20/CT-UBND ngày 22 tháng 12 năm 2014 của UBND thành phố Hà Nội về tiếp tục đẩy mạnh công tác đảm bảo an toàn thực phẩm và phòng chống ngộ độc thực phẩm trong tình hình mới. Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 9/05/2016 của Thủ tướng chính phủ về tang cường quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND ngày 5 tháng 06 năm 2019 của UBND thành phố về quy định phân cấp quản lý về ATTP trên địa bàn thành phố Hà Nội. Quyết định số 1246/QĐ-BYT ngày 31/03/2017 của Bộ y tế về việc ban hành “Hướng dẫn thực hiện chế độ kiểm thực ba bước và lưu mẫu thức ăn đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống”. Hướng dẫn số 638/GD&ĐT-MN ngày 23 tháng 09 năm 2020 Hướng dẫn thực hiện quy chế chuyên môn cấp học mầm non năm học 2020- 2021 Kế hoạch số 161/KH-MNCS ngày 28 tháng 09 năm 2020 của trường mầm non Châu Sơn về kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2020- 2021; Công văn số 2073/UBND-YT ngày 29 tháng 09 năm 2020 của Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì về việc tăng cường công tác đảm bảo an toàn thực phẩm tại cơ sở giáo dục mầm non. 2. Thực trạng điều tra Trường MN Châu Sơn là một trường nhỏ gần nhất huyện Ba Vì với số trẻ toàn trường là 240 học sinh trong đó trẻ ăn bán trú tại trường là 220 học sinh. Trong những năm học vừa qua nhà trường luôn cố gắng thực hiện tốt công tác đảm bảo VSTP, không để tình trạng ngộ độc thực phẩm xảy ra trong nhà trường. Để phát huy những kết quả đã đạt được, tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên luôn cố gắng làm hết trách nhiệm vì mục tiêu đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm ; Trong khi thực hiện nghiên cứu, Tôi gặp một số thuận lợi và khó khăn sau: 2.1.Thuân lợi: Được sự quan tâm của Đảng ủy, chính quyền, phòng Giáo dục & Đào tạo huyện, sự quan tâm tạo điều kiện của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa
  4. 5/19 phương nhà trường đã được bổ sung nhiều trang thiết bị phục vụ công tác chăm sóc, nuôi dưỡng... Nhà trường có qui mô rộng rãi thoàng mát, môi trường xanh, sạch, đẹp cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ công tác nuôi dưỡng tương đối đầy đủ như bếp một chiều, trang thiết bị đồ dùng nhà bếp dần dần được hoàn thiện Trình độ chuyên môn của cán bộ giáo viên 100% đạt chuẩn và trên chuẩn, đội ngũ cán bộ giáo viên trẻ, nhiệt tình, năng lực chuyên môn vững vàng. Nhà trường đã lựa chọn và ký với các nhà cung ứng thực phẩm uy tín, có hồ sơ đầy đủ về vệ sinh an toàn thực phẩm. Phụ huynh tin tưởng vào quá trình chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường và luôn ủng hộ các hoạt động nhà trường 2.2. Khó khăn: Ngoài những thuận lợi trên trong khi thực hiện đề tài, tôi còn gặp không ít khó khăn: Bên cạnh còn một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng theo khoa học của con mình ở gia đình cũng như nhà trường. Các loại thực phẩm luôn ẩn chứa những nguy cơ nhiễm khuẩn làm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ , làm giảm chất lượng bữa ăn của trẻ tại trường mầm non . Một số giáo viên, nhân viên chưa hiểu tầm quan trọng của vệ sinh an toàn thực phẩm; Đa số giáo viên, nhân viên ngại tìm hiểu,đọc các văn bản về vệ sinh an toàn thực phẩm nên chưa hiểu nhiều về công tác này. Một số trẻ không thích ứng với các loại thực phẩm, các món ăn mới; Một số trẻ hay bị dị ứng với cá, tôm, cua, lươn Hiện nay nhà trường đang thiếu nhân viên y tế vì vậy ảnh hưởng tới công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhà trường chưa có các thiết bị hiện đại kiểm tra độ an toàn của thực phẩm 3. Tên sáng kiến kinh nghiệm: Biện pháp chỉ đạo đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non 4. Tên các biện pháp 4.1. Nâng cao nhận thức của bản thân đối với công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. 4.2. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo công tác quản lí vệ sinh an toàn thực phẩm, Kí hợp đồng với các nhà cung ứng thực phẩm 4.4. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường nhằm nâng cao kiến thức vệ
  5. 6/19 sinh an toàn thực phẩm 4.5. Tăng cường cơ sở vật chất đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm 4.6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát 4.7. Lồng ghép nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ. 4.8. Biện pháp 8: Xây dựng vườn rau sạch 5. Cách thức thực hiện từng biện pháp 5.1. Nâng cao nhận thức của bản thân đối với công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Trước đây khi chưa được tiếp xúc, chưa nghiên cứu kĩ các văn bản hướng dẫn về công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm bản thân Tôi nghĩ chỉ cần giao nhận thực phẩm đầy đủ từ các nhà cung cấp mà nhà trường đã hợp đồng, cảm quan thực phẩm tươi, không bị dập nát, sơ chế chế biến thực phẩm đảm bảo vệ sinh, lưu mẫu đầy đủ thế là được. Nhưng với tình hình hiện nay vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm rất phức tạp có thể sảy ra bất cứ khi nào nếu chúng ta hiểu chưa nhiều và lơ là về công tác này hay khi xảy ra chúng ta không biết xử lý như nào cho đúng quy trình. Sau khi được tham gia vào các buổi tập huấn của phòng giáo dục, trung tâm y tế huyện, Thông qua việc nắm bắt thông tin về một số vụ ngộ độc thực phẩm sảy ra trên địa bàn thành phố, bản thân Tôi nghĩ để làm tốt công tác này và hạn chế tối đa tình trạng ngộ độc thực phẩm xảy ra bản thân Tôi cần phải hiểu sâu, nắm vững những nội dung cơ bản của vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì vậy Tôi đã tự bồi dưỡng nhận thức của bản thân thông qua sách, báo, tài liệu, các buổi bồi dưỡng chuyên đề, các văn bản cấp trên, thông qua đồng nghiệp với các nội dung sau: Bồi dưỡng bằng các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như: Tìm hiểu về các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm; Nghiên cứu kỹ luật an toàn thực phẩm; Quy định 115/2018/NĐ-CP ngày về 04/09/2018 của chính phủ về “ Quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm” để nắm được các lỗi vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm và các mức phạt đối với các hành vi vi phạm để nhà trường tránh không bị mắc phải các vi phạm đó. Quyết định số 14/2019/QĐ-UBND ngày 05 tháng 07 năm 2019 của UBND thành phố Hà Nội về quy định phân cấp quản lý về ATTP trên địa bàn thành phố Hà Nội, Quyết định số 1246/QĐ-BYT ngày 31/03/2017 của Bộ Y tế về việc ban hành “ Hướng dẫn thực hiện chế độ kiểm thực ba bước và lưu mẫu thức ăn đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống” Bồi dưỡng thông qua tài liệu, mạng internet: Tự bồi dưỡng thông qua tài liệu hướng dẫn bảo đảm an toàn thực phẩm tại bếp ăn tập thể, Thông qua một số
  6. 7/19 trang Web như trang vesinhantoanthucpham.vn; giaoduc.net, mammon.com, bài giảng điện tử của chi cục vệ sinh an toàn thực phẩm Hà Nội Tôi nắm được các nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm như: Nguy cơ từ các nguyên vật liệu dung để chế biến, Nguy cơ từ các dụng cụ trong quá trình chế biến, Nguy cơ từ quá trình chế biến, quá trình chia ăn, quá trình bảo quản và vận chuyển thức ăn; Một số mối nguy từ vi sinh vật, hóa chất, độc tố tự nhiên trong thực phẩm và từ thực phẩm biến chất; Tìm hiểu quy trình xử lý ngộ độc tại bếp ăn tập thể nếu có tránh làm việc không đúng quy trình .. Bồi dưỡng thông qua các buổi tập huấn, chuyên đề như: Tập huấn bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ về quản lý an toàn thực phẩm cho các trường có bếp ăn bán trú trên địa bàn huyện Ba Vì năm 2020 do trung tâm y tế tổ chức, thông qua chuyên đề quản lý công tác chăm sóc nuôi dưỡng do phòng giáo dục tổ chức. Kết quả: Thông qua việc tự bồi dưỡng bản thân Tôi đã có những hiểu biết nhất định về vấn đề Vệ sinh an toàn thực phẩm , hiểu sâu hơn, nắm chắc hơn các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nội dung an toàn thực phẩm để tham mưu, chỉ đạo công tác an toàn thực phẩm được tốt hơn, trong năm học 2020 – 2021 nhà trường không để sảy ra ngộ độc thực phẩm. 5.2. Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch chỉ đạo công tác quản lí vệ sinh an toàn thực phẩm, Ký hợp đồng với các nhà cung ứng thực phẩm Kế hoạch là bản tổng thể giúp cho cán bộ quản lý thấy được toàn bộ công việc trong công tác đảm bảo an toàn thực phẩm cho trẻ, thấy được sự phối hợp giữa các bộ phận, mức độ hoàn thành công việc ra sao. Tuy nhiên khi chưa hiểu được nhiều về các nội dung đảm bảo an toàn thực phẩm việc tham mưu xây dựng kế hoạch cũng sơ sài, chưa bao quát hết các nhiệm vụ, chưa thấy được sự phối hợp rõ ràng giữa các bộ phận..Để công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thực hiện tốt: Ngay từ đầu năm học, do đã nghiên cứu kĩ các văn bản có liên quan đến công tác ATVSTP Tôi đã tham mưu với đồng chí hiệu trưởng xây dựng kế hoạch đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường cũng như điều kiện kinh tế tại địa phương. Kế hoạch xác định rõ mục tiêu, giải pháp trọng tâm và những giải pháp cụ thể để phòng tránh mất vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo sức khỏe của trẻ và phòng trách được dịch bệnh sảy ra trong nhà trường . Kế hoạch được triển khai tới toàn thể cán bộ, giáo viên và nhân viên để cùng nhau thực hiện. Trong kế hoạch phân công nhiệm vụ từng thành viên, từng bộ phận cụ thể.
  7. 8/19 Ví dụ: Trong kế hoạch vệ sinh an toàn thực phẩm của nhà trường năm học 2020- 2021 đối với ban giám hiệu: Kí hợp đồng thực phẩm với các nhà cung cấp; Giám sát chặt chẽ quy trình giao nhận, chế biến thực phẩm chia ăn tại bếp, Chỉ đạo tổ nuôi, giáo viên thực hiện đúng quy trình chế biến, Giám sát chặt chẽ quá trình ghi chép các đầu sổ theo đúng quy định, đôn đốc kiểm tra nhân viên y tế tổ chức lưu mẫu thức ăn hàng ngày đúng theo trọng lượng và các loại thức ăn theo yêu cầu. Đối với giáo viên: Vệ sinh môi trường trong lớp học, vệ sinh đồ dùng, đồ chơi và thực hiện nghiêm túc rửa tay bằng xà phòng đúng quy định; Phát hiện và báo cáo kịp thời với ban chỉ đạo vệ sinh an toàn thực phẩm khi trẻ có dấu hiệu ngộ độc thực phẩm, các bệnh lây truyền qua đường thực phẩm; Lồng ghép nội dung giáo dục ATTP vào các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ tại lớp;Đồ dùng của trẻ có ký hiệu riêng được hấp sấy, luộc đúng quy định trước khi sử dụng. Bên cạnh việc xây dựng kế hoạch đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Tôi cũng căn cứ vào tình hình thực tế xây dựng phương án xử lý khi có sự cố về mất vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như sự cố sảy ra khi trẻ uống sữa học đường; Khi xây dựng phương án Tôi bám sát vào điều 53 Luật an toàn thực phẩm và quyết định số 39/2006/QĐ-BYT ngày 13/03/2006 của Bộ y tế về việc ban hành “ Quy chế điều tra ngộ độc thực phẩm”. Trong phương án xử lý Tôi xác định có 5 bước rõ ràng đó là (Phát hiện Liên hệ y tế địa phương Liên hệ bệnh viên Xét nghiệm mẫu thức ăn Khắc phục vụ ngộ độc thực phẩm) và trong mỗi bước Tôi phân công cán bộ, giáo viên, nhân viên phụ trách cụ thể. Sau khi xây dựng phương án xử lý hoàn chỉnh được đồng chí Hiệu trưởng duyệt Tôi cũng tham mưu với nhà trường phối hợp với các đoàn thể trong nhà trường tổ chức diễn tập khi có sự cố sảy ra. Song song với việc thực hiện kế hoạch,Tôi tham mưu với đồng chí hiệu trưởng thành lập tổ tự giám sát chất lượng an toàn thực phẩm trong nhà trường giao ban định kì 1 tháng họp 1 lần. Thành phần gồm đồng chí Hiệu trưởng, hiệu phó, y tế, tổ trưởng tổ chuyên môn, tổ văn phòng, thanh tra nhân dân, chủ tịch công đoàn và đặc biệt có sự tham gia của ban đại diện cha mẹ học sinh của trường. Đồng chí Hiệu trưởng là tổ trưởng phụ trách chung, phân công nhiệm vụ cụ thể từng thành viên. Tổ tự giám sát thực hiện giám sát với các nội dung: Giám sát nguồn gốc nguyên liệu nhập vào; Giám sát khâu giao, nhận thực phẩm, tình trạng cảm quan của thực phẩm; Giám sát điều kiện vật chất môi trường nơi chế biến; Giám sát vệ sinh cá nhân của người trực tiếp chế biến thực phẩm; Giám sát dụng cụ chế biến, kho bảo quản, tủ bảo quản thức ăn và giám sát lưu mẫu thức ăn; Đối với việc kí hợp đồng với các nhà cung cấp thực phẩm: Vào đầu năm
  8. 9/19 học nhà trường tổ chức họp Ban lãnh đạo nhà trường và các đoàn thể thống nhất chế độ ăn uống, thực đơn ăn uống và mời các khách hàng về ký hợp đồng cung ứng thực phẩm như: Thịt, rau, sữa, gạo Nhà cung cấp nào có đầy đủ hồ sơ pháp lý về an toàn thực phẩm, Nguồn cung cấp thực phẩm có đủ điều kiện cung cấp thường xuyên và có trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo giá cả hợp lý, ổn định thì nhà trường sẽ lựa chọn cung cấp thức phẩm cho nhà trường. Thực phẩm hợp đồng với nhà trường phải tươi sống như: Rau, thịt được nhận vào mỗi buổi sáng và được kiểm tra đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng hàng ngày thì nhân viên mới ký nhận và chế biến. Nếu thực phẩm không đảm bảo chất lượng như ẩm mốc, hôi thiu, kém chất lượng sẽ trả lại, nếu lặp lại nhiều lần sẽ ngừng hợp đồng với các nhà cung ứng đó. Kết quả: Nhà trường xây dựng được kế hoạch đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phương án xử lý ngộ độc thực phẩm, phương án xử lý sự cố khi trẻ uống sữa học đường . Thành lập tổ giám sát an toàn thực phẩm làm việc theo sự phân công cụ thể, kiểm tra giám sát thường xuyên hoặc đột xuất; Kí hợp đồng với nhà cung ứng thực phẩm tuy nhỏ, lẻ nhưng hồ sơ pháp lý đầy đủ. 5.3. Biện pháp 3: Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường nhằm nâng cao kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm Để giúp CBGVNV hiểu rõ trách nhiệm của mình trong vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm,trong những năm qua nhà trường luôn chú trọng tới công tác bồi dưỡng kiến thức cho giáo viên và nhân viên.Tuy nhiên qua theo dõi, đánh giá, nhân xét nội dung bồi dưỡng còn sơ sài, thời gian dành cho bồi dưỡng an toàn thực phẩm còn ít chủ yếu nói qua loa, hình thức chưa phong phú thường kết hợp vào các buổi họp hoặc qua zalo, mail vì vậy một số đồng chí giáo viên, nhân viên chưa thấy tầm quan trọng của vấn đề mất vệ sinh an toàn thực phẩm nên có tâm lý chủ quan, lơ là, chưa tích cực tham gia bồi dưỡng nội dung này. Một số đồng chí tham gia bồi dưỡng nhưng áp dụng vào thực tế chưa nhiều và chưa hiệu quả. Nhận thấy được những hạn chế đó Tôi đã suy nghĩ tìm ra một số nội dung gần gũi, sát với công việc các cô làm hàng ngày để bồi dưỡng cho giáo viên và nhân viên 3.3.1, Bồi dưỡng chung cho cán bộ, giáo viên, nhân viên a. Bồi dưỡng các nội dung về lý thuyết Bồi dưỡng một số văn bản quy phạm pháp luật, một số văn bản hướng dẫn: Quyết định 1246/QĐ-BYT ngày 31 tháng 3 năm 2017 về hướng dẫn chế độ kiểm thực ba bước; Luật an toàn thực phẩm để cán bộ, giáo viên, nhân viên biết quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; Công văn số 2073/UBND-YT ngày
  9. 10/19 29 tháng 09 năm 2020 về việc tang cường công tác đảm bảo an toàn thực phẩm tại các cơ sở giáo dục; Bồi dưỡng một số kế hoạch, văn bản hướng dẫn cấp trên: Công văn số 631/KHGDĐT-MN ngày 23 tháng 09 năm 2020 của phòng giáo dục và đào tạo Ba Vì về kế hoạch tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học 2020- 2021 cấp học mầm non; Hướng dẫn số 638/GD&ĐT-MN ngày 23 tháng 09 năm 2020 hướng dẫn thực hiện quy chế chuyên môn cấp học mầm non năm học 2020- 2021; Hướng dấn thực hiện quy chế chuyên môn trường mầm non Châu Sơn; Quy trình xử lý ngộ độc thực phẩm, quy trình xử lý sự cố khi trẻ uống sữa học đường.. b. Bồi dưỡng các nội dung qua thực tế: Cách lựa chọn thực phẩm thông thường Như chúng ta đã biết tại trường mầm non mặc dù đã có hợp đồng cung ứng thực phẩm nhưng người tiếp nhận thực phẩm tại trường mầm non phải có trách nhiệm và có kiến thức để có thể nhận biết được các thực phẩm tươi, sạch hoặc không đảm bảo vệ sinh an toàn thông qua cảm quan khi được phân công giao nhận thực phẩm Ví dụ: Cách lựa chọn thịt lợn TT Chỉ số Thịt tươi Thịt kém tươi và ôi Trạng Màng ngoài khô Màng ngoài nhớt nhiều hay bắt đầu thái Mỡ có màu sắc, độ rắn, nhớt bên mùi vị bình thường. Mỡ màu tối, độ rắn giảm sút,mùi vị ôi. 1 ngoài Mặt khớp láng và trong Mặt khớp có nhiều nhớt Dịch hoạt trong Dịch hoạt đục Vết cắt Màu sắc bình thường, Màu săc tối, hơi nhớt 2 sáng khô Độ rắn Rắn chắc, đàn hồi cao, Thịt kém tươi: Khi ấn ngón tay vào để và đàn lấy ngón tay ấn vào thịt lại vết lõm sau đó mới trở lại bình 3 hồi không để lại vết lõm khi thường bỏ tay ra Thịt ôi: vết lõm còn lâu, không trở lại bình thường được Khi Nước canh trong, mùi vị - Thịt kém tươi: Nước canh đục, mùi vị luộc thơm ngon, trên mặt nổi hôi, trên mặt lớp mỡ tách ra thành 4 thịt một lớp mỡ với vết mỡ những vết nhỏ. to - Thịt ôi: Nước canh đục, vẩn đục mùi vị hôi, hầu như không còn vết mỡ nữa. Cách lựa chon thịt bò tươi;
  10. 11/19 Thịt bò có màu đỏ đặc trưng, mỡ màu vàng nhạt, độ đàn hồi tốt, bề mặt khô mịn, mùi vị bình thường đặc trưng. Ngoài ra Tôi bồi dưỡng cho giáo viên cách phân biệt thịt lợn bị bệnh,lựa chọn thịt gia cầm, lựa chọn trứng, lựa chọn cá, chọn rau quả tươi, những điều cần biết khi mua thực phẩm bao gói, hướng dẫn nhân viên lựa chọn thực phẩm thay thế, những điều cần chú ý khi phối hợp các loại thực phẩm để có giá trị dinh dưỡng cao nhất mà không ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ. Một số loại thực phẩm khi kết hợp với nhau xung khắc cần phải tránh: Cam quýt và sữa bò, sữa bò và nước hoa quả, Sữa bò và đường, sữa đậu nành và trứng gà, Sữa đậu nành và đường đen, Hoa quả và hải sản, các loại động vật có vỏ sống dưới nước và vitamin C. Giá đậu xanh và gan lợn. Những thực phẩm trên khi kết hợp với nhau sẽ sảy ra ngộ độc gây mất an toàn cho trẻ. Ngoài bồi dưỡng cách lựa chọn thực phẩm tôi chú trọng bồi dưỡng cách sơ chế, chế biến thực phẩm, bảo quản thực phẩm, cách lưu mẫu thức ăn .. Hình thức bồi dưỡng: Thông qua cuộc họp hội đồng sư phạm nhà trường, gửi tài liệu qua email, Zalo, qua Enetviet. Sau một số buổi bồi dưỡng Tôi yêu cầu giáo viên, nhân viên có bài thu hoạch nộp về Ban giám hiệu để chúng Tôi đánh giá giáo viên, nhân viên . 3.3.2. Bồi dưỡng tập huấn đối với nhân viên Tôi bồi dưỡng, hướng dẫn nhân viên cách viết sổ kiểm thực ba bước, một số quy định đối với nhân viên nuôi dưỡng thực hiện nghiêm túc khâu vệ sinh cá nhân trong quá trình chế biến cho trẻ như: luôn sử dụng tạp dề, khẩu trang, găng tay trong suốt quá trình chế biến. Đầu tóc gọn gàng, móng tay, móng chân cắt ngắn, sạch sẽ, rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi chế biến thức ăn cho trẻ, khi tay bẩn, sau khi đi vệ sinh và rửa tay sau mỗi công đoạn chế biến. Khi chia thức ăn cho trẻ phải mang khẩu trang, găng tay và chia thức ăn bằng dụng cụ. Tuyết đối không dùng tay để bốc và chia thức ăn, thực hiện nghiêm túc việc phân chia thức ăn cho trẻ phải đảm bảo số lượng và định lượng.. Bồi dưỡng nhân viên cách lưu mẫu thức ăn: Số lượng mẫu lưu, cách ghi tem lưu mẫu, cách dán tem, thời gian lưu và hủy mẫu. Đối với nhân viên Tôi bồi dưỡng thông qua lý thuyết và cho nhân viên thực hành trực tiếp. 3.3.3. Đối với giáo viên: Tập huấn cho giáo viên cách tổ chức cho trẻ rửa tay, rửa mặt trước khi ăn, khi tay bẩn và sau khi đi vệ sinh đối với trẻ mẫu giáo, cách rửa tay, rửa mặt cho trẻ đối với trẻ nhà trẻ. Vệ sinh bàn ghế, khăn, dụng cụ cho trẻ ăn. Vệ sinh môi
  11. 12/19 trường trong và ngoài lớp học, tổ chức giờ ăn cho trẻ. Ngoài ra hướng dẫn giáo viên quan sát, theo dõi những trẻ hay bị dị ứng với các loại thực phẩm như cá tôm, lươn hay trẻ thích nghi với những món ăn với những thực phẩm mới. Kết quả: 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường được tham gia bồi dưỡng đầy đủ bằng các hình thức khác nhau như: Thông qua buổi tuyên truyền, tập huấn, lồng ghép với cuộc họp, gưi tài liệu qua Zalo, EnetViet, Thông qua Wedsite của nhà trường. Khi được tập huấn, bồi dưỡng các nội dung trên cán bộ, giáo viên, nhân viên thận thức được mức độ nguy hiểm khi sảy ra ngộ độc thực phẩm, vai trò nhiệm vụ của mình trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.Các đồng chí khi được phân công giao nhận thực phẩm có ý thức kiểm tra thực phẩm rất cẩn thận. Các đồng chí nhân viên nghiêm túc mang bảo hộ lao động, thực hiện đúng quy trình giao nhân, sơ chế, chế biến thức ăn, Lưu mẫu đầy đủ đúng định lượng, Giáo viên nghiêm túc tổ chức cho trẻ vệ sinh cá nhân cho trẻ, vệ sinh môi trường sạch sẽ.100% các đồng chí nhân viên được khám sức khỏe 6 tháng 1 lần. 5.4. Biện pháp 4: Tăng cường cơ sở vật chất đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Cơ sở vật chất, trang thiết bị là phương tiện để thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ. Nếu cơ sở vật chất đầy đủ sẽ góp phần rất lớn vào kết quả chăm sóc giáo dục trẻ nói chung và công tác VSATTP nói riêng. Những năm học trước cơ sở vật chất bếp ăn còn thiếu nhiều, trường Tôi vẫn nấu ăn cho trẻ bằng củi tại bếp phụ dần cải tạo từ bếp nấu củi thành nấu ga, xung quanh bếp chưa có hệ thông lưới chắn côn trùng, dụng cụ để thực phẩm cho trẻ vẫn sử dụng một số bằng nhôm, Chưa có tủ sấy bát những ngày mưa, rét, độ ẩm cao bát không được phơi khô mà trẻ sử dụng để đựng thức ăn. Từ thực tế trên Tôi nhận thấy nguycơ gây mất an toàn thực phẩm cho trẻ cao như khói, bụi bám vào thực phẩm, một số loại côn trùng có thể đậu, rơi vào thức ăn của trẻ khi không có lưới như dán, ruồi, chuột..Hay trong quá trình bảo quản một số dụng cụ không đảm bảo như xoong nhôm rất có thể bị thôi nhiễm chất độc vào thực phẩm, bát ướt, chưa khô chứa nhiều vi khuẩn...Sau khi được thăm quan học hỏi ở một số trường bạn Tôi đã tham mưu với đồng chí hiệu trưởng một số việc sau: Ngay từ đầu năm học Tôi đã suy nghĩ sắp xếp lại bếp khoa học, hợp lí theo đúng quy trình bếp ăn một chiều, thoáng mát, khô ráo đủ ánh sáng. Cải tạo hệ thông bếp ga nấu dưới bếp phụ sang hệ thống bếp ga trên bếp chính đảm bảo sạch sẽ, vệ sinh, tiết kiệm thời gian cho nhân viên. Tôi tham mưu với nhầ trường đầu tư lưới chắn côn trùng xung quanh bếp nấu nhằm chắn côn trùng mang mầm bệnh xâm nhập vào thức ăn, bát, thìa của trẻ. Ngoài bát thìa bằng Inox ra nhà
  12. 13/19 trường đầu tư toàn bộ hệ thống xoong nồi đựng thực phẩm chín cho trẻ bằng Inox đảm bảo vệ sinh. Những xoong cũ bằng nhôm phân riêng ra đựng thực phẩm sống. Những năm trước bằng nguồn xã hội hóa nhà trường mua tủ cơm ga nâu cơm cho trẻ; Trong năm học này nhà trường đầu tư 1 tủ hấp khăn, máy say thịt, 1 tủ sấy bát để sấy bát cho trẻ trước khi ăn nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ. Nguồn nước không đảm bảo có thể chứa nhiều vi khuẩn, kim loại nặng hay một số chất hóa học khác. Hàng ngày cho trẻ ăn, uống, sinh hoạt cũng có nguy cơ cáo gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm. Nhận thức được điều đó khi có dự án nước sạch về xa nhà trường đã lắp toàn bộ hệ thống nước sạch cho trẻ ăn, uống và 6 tháng 1 lần công ty nước có giấy xét nghiệm nước gửi về nhà trường. Kết quả:Thông qua việc tham mưu mua sắm bổ sung cơ sở vật chất hệ thông bếp nhà trường đã đi vào hoạt động theo đúng nguyên tắc bếp 1 chiều, nhà trường mua sắm được một số đồ dung trang thiết bị theo hướng hiện đại, đồ dung ăn uống của trẻ đầy đủ đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay. Qua việc đầu tư cơ sở vật chất nên nhà trường cũng đã phòng được nhiều nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm.Trong năm học không có vụ ngộ độc thực phẩm nào sảy ra 5.5. Biện pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát Đối với công tác quản lý thì thì việc kiểm tra, giám sát là việc làm cần thiết, đặc biệt là các nội dung liên quan đến ATTP, nếu chúng ta lơ là thì rất có thể xảy ra các tình trạng ngộ độc không kiểm soát, đây là nội dung trọng tâm quan trọng đối với toàn nhà trường vì đối tượng phục vụ của trường là trẻ nhỏ để thực hiện tốt công tác ATTP tôi đã làm như sau 5.5..1 Kiểm tra quá trình giao nhận thực phẩm Khi giao nhận thực phẩm cần phải có đầy đủ các thành phần tham gia: Ban giám hiệu, kế toán, giáo viên, nhân viên y tế, nhân viên trực tiếp nấu bếp và nhà cung ứng thực phẩm. Kiểm tra chất lượng thực phẩm có tươi ngon, đảm bảo chất lượng mới tiếp nhận và chế biến dùng cho trẻ. Khi giao nhận ghi chép cẩn thận thời gian nhận, định lượng, và tình trạng thực phẩm. Đối với thực phẩm bảo quản tại kho đảm bảo vệ sinh, thường xuyên kiểm tra phát hiện sớm những thực phẩm ẩm mốc, kém chất lượng. Các chai lọ đựng thực phẩm trong kho đều phải có nhãn tên. Trong kho để thực phẩm của trẻ không để hóa chất, xà phòng, xăng dầu. 5.5.2 Kiểm tra quá trình sơ chế, chế biến Khi có thực phẩm nhân viên sơ chế ngay, lựa chọn phần ăn được loại bỏ các vật lạ lẫn vào thực phẩm như sạn, xương, mảnh kim loại. Rau rửa kỹ dưới
  13. 14/19 vòi nước, rau cuộn lá như cải bắp.. phải gỡ từng tàu ra mới rửa. sau đó ngâm khoảng 15- 30 phút rồi rửa lại thêm lần nữa. Các loại quả phải rửa sạch, gọt vỏ trước khi sửa dụng. Sơ chế, chế biến thực hiện theo nguyên tác một chiều. Trong quá trình sơ chế chế biến thực phẩm các cô nuôi cần mang trang phục, bảo hộ lao động đúng quy định, không đeo trang sức, để móng tay dài. Cần rửa tay sạch trước khi sơ chế, chế biến thực phẩm. Khi sơ chế chế biến phải để riêng thực phẩm sống, thực phẩm chin. Dụng cụ sơ chế cũng phải để riêng, đồ dùng đựng thực phẩm sống- chín để riêng .Khi chế biến đảm bảo đúng theo thực đơn, đủ số lượng thực phâm. Sơ chế chế biến thực phẩm theo nguyên tắc một chiều và phân khu riêng biệt. Khu sơ chế, chế biến giữ gìn vệ sinh sạch sẽ khuẩn từ thực phẩm sống lây sang thực phẩm chín gây mất an toàn cho trẻ. 5.5.3, Kiểm tra việc lưu mẫu Thực hiện hàng ngày, mỗi món ăn được lấy và lưu vào dụng cụ lưu mẫu riêng và dán niêm phong. Lưỡng mẫu thức ăn đặc tối thiểu 100g, lượng mẫu thức ăn lỏng tối thiểu 150ml, tem lưu mẫu thức ăn đúng theo quy định quyết định 1246 của Bộ y tế. Dụng cụ lưu mẫu bằng hộp Inox, thời gian lưu tối thiểu 24 giờ. Tôi yêu cầu mẫu lưu của cô để riêng, của trẻ để riêng, mẫu lưu sữa học đường để riêng. Cập nhật đầy đủ vào sổ kiểm thực ba bước, sổ lưu mẫu thức ăn cô 5.5.4 Kiểm tra dụng cụ phục vụ ăn uống của trẻ. Dụng cụ phục vụ ăn, uống cho trẻ đủ, đúng theo quy định. Bàn ghế phục vụ bữa ăn của trẻ đủ cho trẻ ngồi. Dụng cụ dùng cho ăn uống của trẻ sạch sẽ, Bát thìa bằng Inox. Khi trẻ dùng xong rửa ngay. Khăn mặt giặt bằng xà phòng hằng ngày và được hấp 3 lần/ tuần; Cốc uống nước, bát thìa của trẻ sấy hằng ngày vào buổi sáng trước khi cho trẻ ăn, để diệt khuẩn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Các dụng cụ phục vụ ăn uống của trẻ sau khi phơi khô cuối ngày để vào tủ, được đậy kín tránh côn trùng vào gây bệnh. Thức ăn sau khi nấu chín đậy kín tránh ruồi muỗi 5.5.5, Kiểm tra đối với giáo viên Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp chăm sóc trẻ trong trường mầm non nhất là tại lớp bán trú. Nên công tác vệ sinh cá nhân của cô giáo cùng là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Vì vậy cô giáo phải rửa tay bằng xà phòng trước khi chia thức ăn và mang khẩu trang, găng tay, dùng dụng cụ chia thức ăn riêng. Chuẩn bị đầy đủ bàn ghế, khăn lau tay, đĩa đựng thức ăn thừa cho trẻ, cô luôn động viên trẻ ăn hết suất.
  14. 15/19 Tổ chức cho giáo viên được khám sức khỏe định kỳ 6 tháng 1 lần như cấp dưỡng. Giáo viên luôn ứng xử nhẹ nhàng đối với trẻ ở mọi lúc mọi nơi để tạo cho trẻ một tâm thế ổn định về thể chất lẫn tinh thần. Và không ngừng thu thập những thông tin quan trọng về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với trẻ nói riêng và người tiêu dùng nói chung. Để đúc kết và rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc đảm bảo VSATTP trong trường mầm non. 5.5.6. Kiểm tra vệ sinh cá nhân trẻ: Như chúng ta đã biết vệ sinh an toàn thực phẩm là phần quan trọng có ảnh hưởng nhất định đến khả năng phát triển cơ thể trẻ. Trẻ phải được rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn bằng xà phòng dưới vòi nước chảy, rửa xong dùng khăn lau khô. Kiểm tra vệ sinh cá nhân của trẻ như: luôn cắt ngắn móng tay, móng chân cho trẻ, mặt mũi đầu tóc gọn gàng vì đây là những nơi vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể trẻ thông qua nhiều hình thức như vô tình trẻ bốc thức ăn bằng tay...Dạy trẻ có thói quen biết giữ gìn vệ sinh trong ăn uống: Ăn chín, uống sôi, thói quen ăn uống văn minh: Ăn chậm, nhai kỹ, ăn uống từ tốn tránh rơi vãi, khi thức ăn rơi vãi nhặt bỏ vào nơi quy định (đĩa bỏ thức ăn thừa). Khi ăn xong trẻ phải biết đánh răng, súc miệng sạch sẽ và uống nước 5.5.7.Kiểm tra việc vệ sinh môi trường a. Nguồn nước: Nước là một loại nguyên liệu không thể thiếu được và nó được sử dụng nhiều công đoạn chế biến thực phẩm và vệ sinh trong sinh hoạt hằng ngày đối với trẻ. Nước nhiễm bẩn sẽ tạo nguy cơ không tốt đến sức khoẻ của trẻ.Vì vậy Tôi đã tham mưu với nhà trường sử dụng toàn bộ nước sạch để phục vụ sinh hoạt của trẻ tại trường . Nước uống của trẻ luôn được đun sôi để nguội và đựng vào bình có nắp đậy , tất cả các lớp đều có bình đựng nước và bình đựng nước được cọ rửa hằng ngày. b. Xử lý chất thải Các chất thải ra phải cho vào thùng rác và có nắp đậy, rác thải đã được nhà trường ký hợp đồng với người vệ sinh môi trường thu gom và xử lý hằng ngày, vì vậy khuôn viên trường lớp không có rác thải tồn đọng và mùi hôi thối. Thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh đặc biệt phòng chống dịch Co Vid- 19 thứ 7 hàng tuần nhà trường tổ chức tổng vệ sinh khử khuẩn trong và ngoài trường, ngâm đồ chơi bằng cloraminB, lau các bề mặt tiếp súc như mặt bàn, cửa nắm, tay vịn cầu thang bằng cloramin B và cồn 70 độ. Kết quả: Việc kiểm tra giám sát giúp ý thức làm việc của giáo viên và nhân viên ngày càng cao đặc biệt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; Việc giao nhận thực phẩm, sơ chế, chế biến được thực hiện nghiêm túc, lưu mẫu thức ăn
  15. 16/19 đầy đủ đúng theo quy định. 100% trẻ được vệ sinh sạch sẽ; Môi trường trong và ngoài lớp sạch- đẹp đặc biệt nhà trường không có dịch bệnh sảy ra. 5.6. Biện pháp 6: Lồng ghép nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi mầm non “Học bằng chơi, chơi mà học” dạy trẻ học theo hướng tích hợp các hoạt động. Cũng giống như các nội dung giáo dục khác ngay từ đầu năm học nhà trường chúng Tôi chủ động chỉ đạo các lớp thiết kế các hoạt động lồng ghép nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm vào trong các hoạt động của trẻ. Thông qua hoạt động học, chơi giáo viên khéo léo lồng ghép các nội dung giáo dục trẻ về vệ sinh an toàn thực phẩm như: Khi hướng dẫn trẻ khám phá khoa học về một số loại rau, quả có thể tích hợp nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ như: lợi ích của rau quả đối với cuộc sống con người, giáo dục trẻ đảm bảo vệ sinh an toàn cho trẻ trước khi ăn, dạy trẻ cách chọn rau quả tươi, không dập nát, không bị thối Dạy trẻ cách chế biến rau quả đơn giản như rửa quả, gọt bỏ vỏ, không ăn quả xanh Khi ăn hoa quả rửa tay trước khi ăn, vỏ, hạt vứt vào thùng rác. Khi tìm hiểu về các nguồn nước dạy trẻ nhận biết nước sạch, nước bẩn, Bảo vệ nước, sử dụng nước sạch để tắm, rửa, nấu thức ăn, đặc biệt uống nước khi đun sôi. Không uống nhiều các loại nước có ga Thông qua giờ hoạt động âm nhạc khi dạy trẻ hát “Khám tay” dạy trẻ luôn giữ đôi bàn tay sạch sẽ, không cho tay vào mồm mút, cắn . Rửa tay dưới vòi nước bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn. Qua bài hát “thật đáng chê” lồng ghép giáo dục trẻ ăn chín, uống sôi Thông qua trò chơi đóng vai trẻ chơi “ bé tập làm nội trơ” giáo dục trẻ vệ sinh an toàn thực phẩm như: Cách chọn thực phẩm tươi, ngon. Trước khi nấu phải rửa, dụng cụ chế biến thực phẩm phải cọ sau khi chế biến.Nấu thức ăn phải chín kĩ đảm bảo vệ sinh, rửa tay trước khi ăn, đồ dùng để ăn phải sạch sẽ .Thông qua chơi “ bé tập làm nội trợ” giáo dục được trẻ rất nhiều kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm. Thông qua giờ ăn: Lồng ghép dạy trẻ không nhặt thức ăn rơi vãi để ăn, ăn uống từ tốn, không dùng tay bốc thức ăn, không ngậm cơm, không để cơm rơi vãi ra nhà hoặc ra sàn, không nhổ cơm bừa bãi xung quanh. Rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn. Thông qua các hoạt động khác giáo dục trẻ: Luôn giữ gìn đầu tóc, quần áo gọn gàng. Trẻ ăn thức ăn đã chín, không ăn lại thức ăn có mùi, thức ăn để lâu, một số loại thức ăn khi kết hợp với nhau gây độc cho trẻ, những lưu ý khi tiếp
  16. 17/19 xúc với gia xúc gia cầm, vệ sinh cá nhân sạch sẽ. Có thể củng cố kĩ năng rửa tay rửa mặt cho trẻ vào hoạt động chiều hay mọi lúc mọi nơi. Khi cho trẻ đi dạo chơi ngoài trời lồng ghép dạy trẻ sau khi chơi xong phải vệ sinh tay sạch sẽ, nhặt lá cây ngoài sân trường, bỏ rác đúng nơi quy định, giữ gìn môi trường xanh- sạch- đẹpphòng tránh dịch bệnh sảy ra trong trường mầm non. Kết quả:100% các lớp thực hiện việc lồng ghép nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm vào trong các hoạt động ngay từ đầu năm học. Sau khi thực hiện việc lồng ghép giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm vào các hoạt động giáo dục trẻ qua kiểm tra, theo dõi Tôi nhận thấy hầu hết trẻ có ý thức vệ sinh trong và ngoài lớp; 100% trẻ mẫu giáo có kĩ năng rửa tay, rửa mặt trước và sau khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn, biết giữu gìn vệ sinh sạch sẽ, có thói quen ăn uống văn minh, có kiến thức sơ đẳng về vệ sinh an toàn thực phẩm. 5.7. Biện pháp 7: Xây dựng vườn rau sạch Tổ chức y tế thế giới WHO đã khẳng định “Có được thực phẩm an toàn sẽ cải thiện được sức khỏe con người và là quyền cơ bản của con người” Thực tế nhà trường đã kí hợp đồng với các nhà cung ứng thực phẩm với những điều khoản chặt chẽ. Tuy nhiên các nhà cung cấp thực phẩm cho trường đều là những hộ kinh doanh nhỏ, lẻ. Các mặt hàng họ cung cấp đặc biệt các loại rau họ phải mua từ dân và từ các chợ không phải tự sản xuất ra. Rất có thể họ mua phải các loại rau sử dụng phân bón hóa học, các loại hóa chất mà chưa hết thời gian phân hủy đã thu hoạch. Những loại rau này trẻ ăn vào không gây ngộ độc thực ngay mà tồn đọng trong cơ thể trẻ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe trẻ sau này. Nhận thức được tầm quan trọng của việc thực phẩm sạch đối với sức khỏe con người, tôi đã tham mưu với đồng chí Hiệu trưởng xây dựng 2 khu đất trống trong khuân viên trường thành 2 vườn rau nhỏ. BGH phối hợp với các đoàn thể trong trường như: Đoàn thanh niên, chi đoàn thực hiện lao đông công ích, cải tạo 2 khu đất thành 2 vườn rau nhỏ với mục đích vừa là nơi thực hành trải nghiệm cho trẻ vừa là nơi trồng rau cải thiện bữa ăn cho trẻ trong trường, thực hiện được kế hoạch đó tôi đã làm như sau: Đối với khu đất phía trước sân trường: Đây là khu đất thoáng, tôi chỉ đạo các đ/c nhân viên chia khu đất làm các luống nhỏ, trồng các loại rau ngắn ngày xen kẽ như: 2 luống trồng rau dền, 2 luống rau cải ngọt,2 luống trồng rau phía ngoài tường bao làm dàn trồng các loại cây dây leo như mướp, su su, bầu.. theo từng vụ Đối với khu đất phía sau trường, tôi chi đạo san lấp trồng các loại cây dài ngày hơn như rau ngót, rau muống .
  17. 18/19 Khi thực hiện trồng các loại rau đan xen như vậy sẽ cung cấp được cho trẻ đa dạng các loại rau, lại không bị thừa rau, thuận tiện cho việc xây dựng thực đơn theo mùa, làm giảm tối đa thuốc bảo vệ thực vật và các loại hóa chất vào cơ thể, giảm giá thành nhập thực phẩm vào trường cho trẻ. Kết quả: Năm học 2020- 2021 nhà trường xây dựng hai vườn rau xanh từ hai khu đất trống; Hai vườn rau cung cấp toàn bộ rau xanh cho trẻ và tạo được môi trường học tập cho trẻ góp phần xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm, bảo đảm an toàn cho trẻ hằng ngày và tạo niềm tin cho phụ huynh khi gửi con tới trường. PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết quả có so sánh đối chứng Sau một năm thực hiện đề tài, với sự chung tay của ban giám hiệu cùng với những cô gắng của cả tập thể và các cá nhân giáo viên, nhân viên. Kết quả thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho trẻ của nhà trường được đánh giá thông qua bảng khảo sát chất lượng cuối năm như sau: Kết quả khảo sát cuối năm ( Đính kèm SKKN) Từ những số liệu trên cho chúng ta thấy việc áp dụng những biện pháp nâng cao chất lương vệ sinh an toàn thực phẩm sau một năm đạt được những kết quả 1.1. Đối với cán bộ, giáo viên: 100% cán bộ, giáo viên hiểu và thực hiện tốt công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ ăn bán trú trong trường mầm non. Bếp ăn của nhà trường khi được kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm xếp loại Tốt 100% giáo viên áp dụng kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm trong công tác giảng dạy và chăm sóc nuôi dưỡng đạt hiệu quả cao. 100% giáo viên mang trang phục theo quy định, vệ sinh cá nhân trước khi cho trẻ ăn và tiếp xúc với thức ăn Giáo viên cơ bản nắm được kiến thức thực hành dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh chế biến, vệ sinh trong ăn uống cho trẻ. 1.2. Đối với trẻ 100% trẻ có thói quen giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, hiểu được công việc giữ vệ sinh là rất quan trọng đối với sức khoẻ con người. 90 % trẻ có nề nếp ăn uống văn minh, lịch sự 1.3. Đối với nhân viên đặc biệt là nhân viên nuôi dưỡng: 100 % các đồng chí nhân viên được khám sức khỏe định kì, được chứng nhận đủ sức khỏe để tham gia công tác
  18. 19/19 100% nhân viên nuôi dưỡng có hiểu biết về vệ sinh an toàn thực phẩm, giữ gìn vệ sinh khi sơ chế, chế biến, vệ sinh khu sơ chế chế biến 100% nhân viên có thói quen mang trang phục, bảo hộ lao động theo quy định. 2. Kết luận Công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là mối quan tâm của toàn xã hội. Vì vậy mà vai trò của người phụ trách chăm sóc nuôi dưỡng trong những trường mầm non có tổ chức cho trẻ ăn bán trú rất nặng nề. Trước thực tế đó đòi hỏi người cán bộ quản lí luôn năng động, sáng tạo trong việc tiếp cận với tất cả các hoạt động trong nhà trường. Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non giúp trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, phát triển trí tò mò ham hiểu biết từ đó giúp trẻ phát triển toàn diện hơn. Vì vậy mỗi chúng ta cần phải quan tâm và đầu tư có hiệu quả vào chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ để giúp trẻ có sức khỏe tốt hơn. Qua những năm tổ chức cho trẻ ăn bán trú tại trường, học hỏi đồng nghiệp, tìm hiểu qua sách báo, mạng internet Tôi đã rút ra những nghiệm trên , đó là những bài học giúp cho cán bô, giáo viên và nhân viên có kiến thức cơ bản về mọi mặt trong nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ đặc biệt cách giữ vệ sinh an toàn thực phẩm trong công tác nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tuyên truyền sâu rộng đến tất cả các bậc cha mẹ học sinh và cộng đồng để giúp họ thấy được tầm quan trọng của việc đảm bảo vệ sinh an toàn thức phẩm trong trường mầm non nói riêng và trong từng gia đình nói chung. 3, Khuyến nghị Đối với phòng giáo dục: Hàng năm phối hợp với trung tâm y tế huyên tổ chức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên cốt cán tham gia các lớp tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm, cách phòng ngừa các dịch bệnh thường xuyên sảy ra tại trường mầm non. Đối với nhà trường: Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất theo hướng hiện đại để phục vụ công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đặc biệt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm . Trên đây là bản sáng kiến kinh nghiệm của bản thân Tôi rất mong được sự tham gia góp ý của hội đồng khoa học các cấp, các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến để bản sáng kiến của Tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh nghiệm này là do Tôi viết, không sao chép của ai, nếu sai Tôi hoàn toàn chịu trạch nhiệm. Tôi xin trân thành cảm ơn!