SKKN Một số giải pháp bồi dưỡng, chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trong trường mầm non - Phùng Thị Thúy Nhài

pdf 28 trang Anh Túc 19/09/2026 40
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số giải pháp bồi dưỡng, chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trong trường mầm non - Phùng Thị Thúy Nhài", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_giai_phap_boi_duong_chi_dao_giao_vien_nang_cao_c.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp bồi dưỡng, chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trong trường mầm non - Phùng Thị Thúy Nhài

  1. 1 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON CHÂU SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “Một số giải pháp bồi dưỡng, chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trong trường mầm non” Tên Tác giả: Phùng Thị Thuý Nhài Đơn vị công tác: Trường Mầm non Châu Sơn Chức vụ: Phó hiệu trưởng Năm 2024
  2. 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng xét duyệt sáng kiến trường mầm non Châu Sơn; Hội đồng xét duyệt sáng kiến kinh nghiệm Huyện Ba Vì. Trình độ Ngày tháng Nơi công tác Chức Họ và tên chuyên Tên sáng kiến năm sinh danh môn Một số giải pháp bồi dưỡng, chỉ đạo giáo Phùng Thị Trường MN Phó hiệu viên nâng cao chất 30/06/1982 Cử nhân lượng tổ chức các Thúy Nhài Châu Sơn trưởng hoạt động giáo dục cho trẻ trong trường mầm non. - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lý - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: Một số giải pháp bồi dưỡng, chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trong trường mầm non. - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Ngày 15/09/2023 - Mô tả bản chất của sáng kiến: Một số giải pháp bồi dưỡng, chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trong trường mầm non. Sáng kiến trình bày theo đúng thể thức văn bản khoa học. Kết cấu sáng kiến gồm 3 phần (Đặt vấn đề, nội dung sáng kiến, kiến nghị, đề xuất). Sáng kiến đã đưa ra các giải pháp cụ thể góp phần nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trong trường mầm non. Sáng kiến gồm 5 giải pháp chính đó là: 1. Chỉ đạo đổi mới phương pháp, hình thức, nội dung sinh hoạt chuyên môn, phát huy súc manh của các tổ chuyên môn. 2. Tăng cường bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ. Chi đạo giáo viên tự bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho bản thân. 3. Bồi duỡng giáo viên thông qua các hội thi, hội giảng, các chuyên đề. 4.Tǎng cuờng kiểm tra, đáng giá, giúp đỡ giáo viên, nhân rộng những sáng kiến hay.
  3. 3 5. Chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt các mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo duc mầm non. - Những thông tin cần bảo mật: Không có - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Thời gian, giáo viên nhiệt tình trong công tác, có tinh thần cầu thị. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: * Đối với giáo viên: Thực hiện tốt được công tác giáo dục trẻ, nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ, có tinh thần đổi mới trong công tác, tiếp thu cái mới, từ đó cùng nhau đem lại kết quả cao về công tác chuyên môn cho đội ngũ giáo viên ở trường, có tinh thần phải học tập, tìm tòi, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn. * Đối với trẻ: Được học tập trong điều kiện tốt nhất nhằm hỗ trợ trẻ phát triển ở tất cả các lĩnh vực, chất lượng giáo dục ở trẻ tăng lên rõ rệt, - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử: Góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn của giáo viên và hiệu quả của việc giáo dục trẻ. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: Có khả năng ứng dụng trong phạm vi các trường, cách làm phù hợp với thực tiễn của địa phương và có tính lan tỏa rộng rãi trong xã hội. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Châu Sơn, ngày 30 tháng 4 năm 2024 Người yêu cầu (Ký và ghi rõ họ tên) Phùng Thị Thúy Nhài
  4. 4 UBND HUYỆN BA VÌ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG MN CHÂU SƠN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHIẾU NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ - Họ tên tác giả: Phùng Thị Thúy Nhài - Tên đề tài: Một số giải pháp bồi dưỡng chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ trong trường mầm non. - Lĩnh vực: Quản lý STT Tiêu chuẩn Điểm tối đa 1 Sáng kiến có tính mới 1.1 Hoàn toàn mới, được áp dụng đầu tiên 30 1.2 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ khá 20 1.3 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ trung bình 10 1.4 Không có tính mới hoặc sao chép từ các giải pháp đã có trước đây 0 Nhận xét: SK hoàn toàn mới, lần đầu được áp dụng tại đơn vị (Đạt 30 điểm) 2 Sáng kiến có tính áp dụng 2.1 Có khả năng áp dụng trong phạm vi toàn ngành hoặc rộng hơn 30 2.2 Có khả năng áp dụng trong đơn vị và có thể nhân ra một số đơn vị có 20 cùng điều kiện 2.3 Có khả năng áp dụng trong đơn vị 10 2.4 Không có khả năng áp dụng trong đơn vị 0 Nhận xét: Có khả năng áp dụng trong đơn vị và có thể nhân ra một số đơn vị có cùng điều kiện (Đạt 20 điểm) 3 Sáng kiến có tính hiệu quả 3.1 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có tính lan tỏa 30 3.2 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội 20 3.3 Có hiệu quả, lợi ích phù hợp với mức độ phù hợp tại đơn vị 10 3.4 Không có hiệu quả cụ thể 0 Nhận xét: Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có lan tỏa (Đạt 25 điểm) 4 Điểm trình bày 4.1 Trình bày khoa học, hợp lý 10 4.2 Trình bày chưa khoa học, chưa hợp lý 5 Nhận xét: SK được trình bày khoa học, hợp lý (Đạt 10 điểm) Tổng cộng: 85 điểm Đánh giá:  Đạt (>70 điểm) □Không đạt CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CƠ SỞ
  5. 5 MỤC LỤC PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ ... . 2 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến . . 3 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến . .. . 3 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 3 PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 3 1. Hiện trạng vấn đề: ... ... 4 1.1. Đặc điểm tình hình . . 4 1.2. Số liệu khảo sát trước khi thực hiện .. . 4 1.3. Những hạn chế về công tác giáo dục của giáo viên 4 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn ... ... 4 Giải pháp 1: Chỉ đạo đổi mới phương pháp, hình thức, nội dung sinh 5 hoạt chuyên môn, phát huy súc manh của các tổ chuyên môn 5 Giải pháp 2: Tăng cường bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ. Chi đạo 6 giáo viên tự bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho bản thân. .. 7 Giải pháp 3: Bồi duỡng giáo viên thông qua các hội thi, hội giảng, các 8 chuyên đề. Giải pháp 4: Tǎng cuờng kiểm tra, đáng giá, giúp đỡ giáo viên, nhân 9 rộng những sáng kiến hay. ... 11 Giải pháp 5: Chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt các mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo duc mầm non. 16 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị . 17 4. Hiệu quả của sáng kiến . . .. 17 4.1. Hiệu quả về khoa học ... . ... 17 4.2. Hiệu quả về kinh tế .. 4.3. Hiệu quả về xã hội . ... 5. Tính khả thi 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến .. 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến . ... PHẦN III: KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT . ... .. . 19
  6. 6 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. * Cơ sở lý luận Giáo dục đào tạo luôn được coi là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, nhà nước và của toàn dân. Trong tình hình đất nước đang đổi mới hiện nay, giáo dục có vị trí vô cùng quan trọng trong việc đào tạo ra những con người tài giỏi có ích cho xã hội vì vậy Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khoá XI đã chỉ rõ phải về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo để đáp ứng với yêu cầu đó. Đội ngũ giáo viên là lực lượng trực tiếp tác động đến quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo. Vai trò của ngành học, chỉ được thể hiện và phát huy bằng chính vai trò của người giáo viên. Việc nâng cao chất lượng chuyên môn cho giáo viên là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình thực hiện giáo dục. Để thực hiện có chất lượng, đạt hiệu quả chương trình thì cần phải đẩy mạnh các hoạt động sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của trường, lớp và khả năng của trẻ; đẩy mạnh tích hợp, chú trọng giáo dục đạo đức, hình thành và phát triển kỹ năng sống, hiểu biết xã hội phù hợp với độ tuổi của trẻ. Đó là cả một vấn đề đáng được đặt ra cho những người làm công tác giáo dục phải làm sao để đổi mới việc giáo dục cho trẻ. Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đây là giai đoạn đặt nền móng quan trọng để góp phần phát triển nhân cách con người. Với mục tiêu giáo dục hiện nay là phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của trẻ, thực hiện đổi mới hình thức và phương pháp giáo dục mầm non để tạo cơ hội cho trẻ được tìm tòi phát huy năng lực sẵn có của mình, trẻ được hoạt động một cách thoải mái, kích thích sự tò mò ham hiểu biết của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động với các hình thức đa dạng, trẻ được trải nghiệm, quan sát, thực hành, chơi từ đó phát triển tư duy, nhân cách trẻ một cách hoài hòa. Để làm được điều đó giáo viên cần chú ý đến hứng thú, nhu cầu, khả năng, thế mạnh của trẻ với phong cách lên lớp nhẹ nhàng, tự tin, gần gũi trẻ, có nhiều biện pháp cho trẻ trải nghiệm, khám phá, câu hỏi gợi mở...trẻ hứng thú tham gia hoạt động, kỹ năng thực hành tốt, có nề nếp tham gia hoạt động. * Cơ sở thực tiễn: Trong thực tế hiện nay chất lượng chăm sóc giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực so với những năm trước đây, nhất là đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của giáo dục và đào tạo. Bởi lẽ công
  7. 7 tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên còn hạn chế về nghệ thuật sư phạm, phong cách giáo viên, đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động. Bắt nguồn từ mong mỏi rằng, làm thế nào để trường có được đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn? Để có được những người giáo viên nhiệt tình, có trách nhiệm, có phẩm chất đạo đức tốt, có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng thì người quản lý cần phải làm gì? Từ những lý luận và thực tiễn trên, là một cán bộ quản lý, tôi luôn luôn tìm tòi, suy nghĩ những giải pháp, hình thức thích hợp để giúp giáo viên tổ chức tốt các hoạt động giáo dục cho trẻ. Vì vậy tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Một số giải pháp bồi dưỡng, chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trong trường mầm non”. 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến: Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục của giáo viên cho trẻ trong nhà trường. Góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản về giáo dục đào tạo. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: - Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2023 đến tháng 4 năm 2024. - Đối tượng nghiên cứu: Giáo viên, học sinh và nghiên cứu các giải pháp bồi dưỡng, chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ trong trường mầm non. - Phạm vi nghiên cứu: Trường mầm non Châu Sơn. PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng vấn đề 1.1. Đặc diểm tình hình Trường mầm non nơi tôi công tác là ngôi trường nhỏ, nằm sát với dân, cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, toàn trường có 9 phòng học kiên cố dành cho 9 nhóm lớp, diện tích bình quân các phòng học là 74m2, có sân chơi, có cây cho bóng mát. Trường có 210 trẻ, số trẻ mẫu giáo là: 152 trẻ, nhà trẻ là 58 trẻ. Có tổng số 38 cán bộ, giáo viên, nhân viên. Trong đó có 3 cán bộ quản lý, 11 nhân viên và 24 giáo viên, 100% giáo viên đều có trình độ trên chuẩn. Được sự quan tâm của Phòng giáo dục và đào tạo đã tạo điều kiện cho tôi cùng các giáo viên đi tham dự các chuyên đề do Phòng Giáo dục và Sở Giáo dục mở đã giúp tôi học hỏi kinh nghiệm về chuyên ngành, và nắm bắt được một số nội dung kiến thức mới. Giáo viên đủ về số lượng đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, có tinh thần đoàn kết và ý thức trách nhiệm cao trong mọi công việc, có tâm huyết, yêu nghề mến trẻ. Tuy nhiên, hầu hết là giáo viên trẻ nên chưa có nhiều kinh nghiệm. Một
  8. 8 số giáo viên còn chưa nhiệt tình trong viêc đổi mới, chưa mạnh dạn học hỏi tự bồi dưỡng để nâng cao chất lượng chuyên môn cho bản thân. 1.2. Số liệu khảo sát trước khi thực hiện. Trước khi thực hiện đề tài này, tôi đã tiến hành khảo sát thực tế tại trường và đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục của giáo viên vào các hoạt động của trẻ theo 3 mức độ: Tốt, khá, trung bình thể hiện số liệu như sau: Bảng đánh giá thực trạng của giáo viên về chất lượng công tác giáo dục ở đầu năm. (Trước khi thực hiện đề tài) Mức độ Tốt Khá Trung bình Nội dung đánh giá Số GV Tỷ lệ Số GV Tỷ lệ Số GV Tỷ lệ Kiến thức, kỹ nǎng sư 4/24 17% 6/24 25% 14/24 58% phạm của giáo viên Công tác tự bồi dưỡng kiến 5/24 21% 7/24 29% 12/24 50% thức chuyên môn của giáo viên. Vận dụng sáng tạo phương 3/24 12% 5/24 21% 16/24 67% pháp day học tích cực vào hoạt động của trẻ. Kết quả đánh giá dự giờ đột 2/24 8% 9/24 38% 13/24 54% xuât giáo viên. Nhìn vào bảng điều tra số liệu cho thấy, kiến thức, kỹ nǎng sư phạm và việc vận dụng sáng tạo phương pháp dạy học tích cực vào hoạt động của trẻ loại khá, tốt còn thấp, công tác tự bồi dưỡng và kết quả dự giờ đột xuất đầu nǎm tỷ lệ tốt và khá chưa cao. 1.3. Những hạn chế về công tác tổ chức các hoạt động giáo dục của giáo viên. Từ những số liệu trên tôi đã tìm hiễu và đưa ra một số hạn chế vê chuyên môn của giáo viên như sau: Giáo viên còn chưa đổi mới, chưa tích cực học hỏi tự bồi dưỡng để nâng cao chất lượng chuyên môn cho bản thân. Chưa xác định đúng mục tiêu, kiến thức và kĩ nǎng, nội dung cơ bản,trọng tâm của bài dạy, chưa phát triển nǎng lực của học sinh.
  9. 9 Xây dựng kế hoạch lựa chọn nội dung dạy học chưa phù hợp. Nội dung giáo dục chưa gắn với thực tế, đời sống xung quanh gần gũi với học sinh, chưa quan tâm giáo dục kĩ nǎng sống cho học sinh, dạy những cái trẻ đã biết. Chưa hiểu rõ đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng phương pháp và hình thức tổ chức dạy học chưa phù hợp với mục tiêu bài dạy, chưa phát huy tính năng động sáng tạo của học sinh. Ví dụ: Lựa chọn phương pháp, hình thức để tổ chức chưa tích cực vẫn còn theo lối mòn, cô là người cung cấp kiến thức, trẻ tiếp thu thụ động, chưa theo hướng đổi mới, giáo viên nói nhiều, chưa biết cách gọi mở cho học sinh do vậy hoạt động rất nhàm chán và hiệu quả không cao. Ví dụ: Khi hỏi học sinh chưa trả lời câu hỏi được, giáo viên sốt ruột trả lời thay luôn chứ không gọi ý hướng dẫn học sinh do vậy không phát triển tư duy học sinh. - Xử lí các tình huống sư phạm chưa phù hợp, chưa khéo léo, chưa có tác dụng giáo dục. - Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học, kể cả đồ dùng dạy học tự làm chưa có hiệu quả. - Phân bổ thời gian một tiết dạy không hợp lí. Nội dung trọng tâm, mới dành thời gian ít. - Giáo viên chưa thật gần gũi, thân thiện với học sinh, tôn trọng và đối xử công bằng với học sinh, chưa chú ý đến phát triển nǎng lực cá nhân. Từ hiện trạng, số liêu khảo sát và hạn chế trên, là một cán bộ quản lý tôi nhận thấy cần tạo ra được động lực cho giáo viên để họ có thể phát huy vị thế của mình quyết định sự thành công trong sự nghiệp đổi mới giáo duc. Vì vậy phải quan tâm dặc biệt tới công tác bồi duỡng xây dựng đội ngũ giáo viên và xem đó là một nhiệm vụ trọng tâm của năm học này và tôi mạnh dạn nghiên cúu đề tài này để khắc phục những mặt còn yếu kém tìm ra một số giải pháp phù hợp giúp nâng cao chất lượng công tác chuyên môn cho giáo viên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ. 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề Có thể nói, giáo viên mầm non là người quyết định trực tiếp đến chất lượng đào tạo ở bậc học đầu tiên này. Mỗi đứa trẻ sau này sẽ là ai, sẽ trở thành người như thế nào, nhân cách của trẻ sẽ phát triển ra sao?... Một phần trách nhiệm thuộc về các cô “người mẹ hiền thứ hai” của trẻ. Vì vậy muốn nâng cao chất lượng của ngành học tôi đã lựa chọn các giải pháp sau để nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động cho trẻ của đội ngũ giáo viên như sau:
  10. 10 1. Chỉ đạo đổi mới phương pháp, hình thức, nội dung sinh hoạt chuyên môn, phát huy súc manh của các tổ chuyên môn. 2. Tăng cường bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ. Chi đạo giáo viên tự bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho bản thân. 3. Bồi duỡng giáo viên thông qua các hội thi, hội giảng, các chuyên đề. 4.Tǎng cuờng kiểm tra, đáng giá, giúp đỡ giáo viên, nhân rộng những sáng kiến hay. 5. Chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt các mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo duc mầm non. 2.1. Giải pháp: Chỉ đạo đổi mới phương pháp, hình thức, nội dung sinh hoạt chuyên môn, phát huy súc manh của các tổ chuyên môn. Tổ chuyên môn là nền tảng để tổ chức và triển khai thực hiện các hoạt động chuyên môn một cách cụ thể và hiệu quả. Tổ chuyên môn có vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp, hình thức dạy học là “trung tâm” bồi dưỡng giáo viên nhằm giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn nói chung và thực hiện tốt việc đổi mới đổi mới phương pháp dạy học. Đồng thời, tổ chuyên môn là nơi phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn của từng giáo viên trong quá trình giảng dạy và giáo dục. Qua sinh hoạt tổ chuyên môn là nơi thực hiện các hoạt động chia sẻ cùng đồng nghiệp về chuyên môn, là môi trường tốt nhất cho những giáo viên còn hạn chế về năng lực và chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy, nhất là giáo viên trẻ có dịp để trao đổi, học tập kinh nghiệm, nâng cao trình độ tay nghề. Để làm được điều đó thì việc chọn tuyển người nòng cốt là hết sức quan trọng. Tổ trưởng tổ chuyên môn, đó là những người phải thực sự có năng lực về chuyên môn, có tố chất chỉ đạo, lãnh đạo, có tinh thần trách nhiệm cao, có sức mạnh trong việc phát huy năng lực của người khác, có sự tín nhiệm của đồng nghiệp và có khả năng định hướng các nội dung, chuyên đề của các buổi họp chuyên môn. Sinh hoạt chuyên môn là một trong những hoạt động cần thiết trong quá trình nâng cao năng lực, nghiệp vụ sư phạm của giáo viên do vậy phải “Đổi mới hoạt động tổ chuyên môn để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non”. Để hoạt động của tổ chuyên môn phát huy được hiệu quả cần phải đổi mới phương pháp hoạt động, hình thức và nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn phải đa dạng của tổ chuyên môn. Cụ thể: Đổi mới nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn: Nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn theo kiểu cũ chủ yếu được thực hiện là đánh giá công tác chuyên môn thời gian qua, triển khai công tác thời gian tới, thảo luận một số vấn đề theo yêu cầu
  11. 11 của nhà trường như dự thảo kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học, hướng dẫn thi đua, Ngoài các nội dung trên, sinh hoạt chuyên môn cần phải thay đổi theo hướng nghiên cứu bài học và đi vào chiều sâu như coi trọng sinh hoạt cho giáo viên về đổi mới phương pháp hình thức dạy học theo các chuyên đề, cập nhật và chia sẻ những kinh nghiệm về tổ chức các hoạt động dạy học, giải quyết các tình huống trong dạy học, dành thời gian nhiều hơn cho việc phân tích, đánh giá và rút kinh nghiệm các giờ dạy đã được giáo viên trong tổ, nhóm chuyên môn dự giờ. Phân công giáo viên xây dựng các hoạt động theo chuyên đề và soạn giảng một bài dạy cụ thể góp ý trong kỳ họp tiếp theo, tổ chức cho giáo viên nghiên cứu, thảo luận, suy ngẫm và chia sẻ ý kiến về bài dạy đó sau đó tổ chức giảng dạy thử nghiệm và dự giờ. Đa dạng nội dung hình thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học, tập trung vào những bài học mới, khó, các lĩnh vực còn yếu kém... Phát huy thế mạnh của giáo viên theo các lĩnh vực: Đó là những giáo viên đã được công nhận là giáo viên dạy giỏi cấp huyện, là tổ trưởng chuyên môn giảng dạy nhiều năm và có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy; có thể là giáo viên bình thường nhưng giỏi về một lĩnh vực cụ thể nào đó như giỏi về lĩnh vực tổ chức âm nhac, tạo hình, công nghệ thông tin, khéo tự làm đồ dùng dạy học, có kinh nghiệm dạy trẻ khuyết tật... Bộ phận giáo viên này là đầu tàu, dẫn dắt tổ chuyên môn thực hiện các nhiệm vụ đổi mới đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên ở các lĩnh vực đó. Đổi mới hình thức sinh hoạt chuyên môn: tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong việc bồi dưỡng chuyên môn. Chẳng hạn: Lập hòm thư tổ để cùng chia sẻ thông tin, hướng dẫn chia sẻ kinh nghiệm khai thác tài nguyên phục vụ bồi dưỡng chuyên môn trên mạng. Các buổi sinh hoạt chuyên môn nên dành thời gian chia sẻ kinh nghiệm, lên chuyên đề,... tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho giáo viên trong chuyên môn. Đổi mới hoạt động tổ chuyên môn là nhân tố quyết định hàng đầu, đòi hỏi các tổ trưởng chuyên môn và giáo viên phải tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động, nâng cao tinh thần cộng tác, giúp đỡ, cầu thị, cầu tiến, phải biết chia sẻ từ cái đơn giản đến cái khó, cái phức tạp để cùng nhau tiến bộ trong từng hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, có như thế, tổ chuyên môn thực sự là môi trường tốt nhất để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên và góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong trường mầm non. (Hình ảnh giáo viên sinh hoạt tổ chuyên môn – Hình ảnh 1 phần minh chứng) Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn đã giúp giáo viên hiểu sâu thêm về các hoạt động dạy học cho trẻ cũng như những khó khăn khi tiếp cận cái mới,
  12. 12 từ đó cùng nhau thống nhất cách dạy cho cả tổ nhóm, đem lại kết quả cao chuyên môn của đội ngũ giáo viên ở trường tôi đã có những chuyển biến rõ rệt, giáo viên tổ chức các hoạt động một cách hợp lý, bình tĩnh, tự tin khi lên lớp, xử lý các tình huống sư phạm khéo léo, nhẹ nhàng hơn. 2.2. Giải pháp: Tăng cường bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ. Chỉ đạo giáo viên tự bồi dưỡng kiến thức chuyên môn cho bản thân. Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu tiên của việc hình thành và phát triển nhân cách con người. Những kết quả trẻ đạt đuợc ở dộ tuổi này có ý nghĩa quyết định dến sự hình thành và phát triển toàn diện trong suốt cuộc đời của trè, điều này phụ thuộc nhiều vào cô giáo mầm non. Vì vậy công tác tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn cho bản thân là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của người giáo viên. Để nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên Thông tư 19/2019/TT- BGDĐT đã ban hành quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm bồi dưỡng thường xuyên và Thông tư số: 12/2019/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 8 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, để mỗi người không ngừng tự bồi dưỡng về năng lực, chuyên môn nghiệp vụ, thường xuyên cập nhật những kiến thức mới, nâng cao tầm hiểu biết của mình phải không ngừng phấn đấu vươn lên, rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá của ngành giáo dục hiện nay. Xã hội càng phát triển, giáo dục đào tạo cũng phải phát triển theo, đòi hỏi ngày càng cao hơn với đội ngũ giáo viên. Tự học, tự bồi dưỡng là phương thức tốt nhất giúp người giáo viên tiến bộ, trưởng thành, có đủ năng lực chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thành nhiệm vụ giáo dục đào tạo giáo. Bồi duỡng là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cần phải đầu tư thỏa đáng về nguồn lực và đổi mới công tác quản lý để thực hiện công việc này có kết quả theo từng năm học. Hằng năm rà soát trình độ, năng lực thực tế của đội ngũ, đưa ra nội dung bồi duỡng phù hợp và xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo từng năm học sát thực tế. Cán bộ, giáo viên xây dựng kế hoạch bồi dưỡng thưòng xuyên của cá nhân cụ thể đúng với nhu cầu của bản thân. Xây dựng kế hoạch bồi duỡng xuất phát từ nhu cầu bồi duỡng của cán bộ quản lý, giáo viên và yêu cầu thực tiễn của giáo dục địa phương theo nhiệm vụ nǎm học hàng nǎm có đối chiếu với đánh giá chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non để xác định rõ nội dung và hình thức bồi dưỡng phù hợp.
  13. 13 Đào tạo phát triển cá nhân, phát hiện nguồn nhân lực có tiềm năng để làm đội ngũ cốt cán nhà trường đồng thời làm nhân tố thúc đẩy các giáo viên, nhân viên khác. Tạo điều kiện để cán bộ, giáo viên, nhân viên tham gia các lớp Cao học và các lớp bồi dưỡng phương pháp giáo dục tiên tiến Steam, Montessori đáp ứng kịp thời những thay đổi và yêu cầu trong giai đoạn hiện nay. Chỉ đạo, hướng dẫn các giáo viên thực hiện việc bồi dưỡng thường xuyên nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cán bộ quản lý và giáo viên mầm non theo hình thức tự học, tự bồi duỡng có sự hướng dẫn, trao đôi của các giáo viên cốt cán trong nhà trường để có sự thống nhất. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của cá nhân một cách khoa học. Trong kế hoạch cần xác định rõ mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, thời gian tự học, tự bồi dưỡng, ghi chép cụ thể từng nội dung đã học. Để quá trình tự học, tự bồi dưỡng đạt chất lượng, hiệu quả tôi luôn có sự định hướng và khuyến khích giáo viên như sau: - Trước hết người giáo viên phải nhận thức được vị trí, vai trò, trách nhiệm, những vấn đề còn thiếu sót, những nội dung lĩnh vực còn hạn chế của mình từ đó mới chủ động, tích cực, tự giác phấn đấu tự học, tự bồi dưỡng. - Khuyến khích giáo viên đăng ký các danh hiệu thi đua, lựa chọn đăng ký một nội dung đổi mới thực hiện trong năm học. - Chỉ đạo giáo viên cần sắp xếp thời gian tự học, tự bồi dưỡng cho phù hợp với đặc trưng công việc của mình. Thời gian tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên mầm non rất hạn chế do vậy mỗi giáo viên cần sắp xếp thời gian tự học qua sinh hoạt chuyên môn ở tổ, nhóm, qua dự giờ thăm lớp, qua tham dự các buổi chuyên đề, tập huấn do trường, Phòng giáo dục - đào tạo tổ chức vào hè hoặc trong năm học. Ngoài ra người giáo viên cần tham gia tự học, tự bồi dưỡng vào ngày nghỉ, giờ nghỉ. (Hình ảnh giáo viên tham dự tập huấn chuyên đề Steam do nhà trường triển khai – Hình ảnh 2 phần minh chứng) - Chỉ đạo giáo viên cần xác định được nội dung tự học, tự bồi dưỡng phù hợp, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, về đạo đức, tác phong, kĩ năng sư phạm. Quá trình bồi dưỡng có thể học tập ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc sống cũng như trong công việc. Học tập, bồi dưỡng thông qua các mối quan hệ với đồng nghiệp, với phụ huynh, với học sinh, với xã hội. Từ đó hoàn thiện mình hơn đồng thời cần biết lựa chọn tài liệu, nghiên cứu thu thập thông tin một cách có chọn lọc phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Giáo viên có thể tìm tài liệu bồi dưỡng qua sách báo, qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua mạng
  14. 14 internet, qua sinh hoạt chuyên môn Giáo viên cần bổ sung kịp thời những kiến thức về công nghệ thông tin, đổi mới về phương pháp dạy học tích cực theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của trẻ, trang bị cho mình những kiến thức về văn hóa, xã hội, những hiểu biết pháp luật. Trong quá trình tự học, tự bồi dưỡng yêu cầu giáo viên phải biết tự kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng. Hoạt động này giúp giáo viên nhìn nhận lại những việc đã làm và chưa làm được trong quá trình tự học, tự bồi dưỡng, từ đó kịp thời điều chỉnh, bổ sung kế hoạch nhằm đạt mục tiêu bồi dưỡng. Nǎm học nhà trường có 24/24 giáo viên được đánh giá công tác bồi duỡng thường xuyên đạt từ khá trở lên, trong đó có 12/24 giáo viên được đánh giá loại giỏi. Như vậy tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên được hình thành trong quá trình luyện tập kiên trì có hệ thống, trên cơ sở ý thức trách nhiệm, tính tự giác cao. Thường xuyên quan tâm tới công tác tự bồi dưỡng của các giáo viên, làm cho các giáo viên tự thấy được công tác tự bồi dưỡng là chìa khóa để cho sự thành công trong công tác bồi dưỡng chuyên môn chính từ đó giúp tôi cảm thấy mình có được sức mạnh của một người lãnh đạo phụ trách công tác chuyên môn trong nhà trường. 2.3. Giải pháp: Bồi duỡng giáo viên thông qua các hội thi, hội giảng, các chuyên đề. Bác Hồ đã nói “Thi đua là yêu nước” vì vậy cần phải phát động thi đua trong nhà trường, từ đó kích động các giáo viên tính sáng tạo, tính tự giác, phấn đấu hết khả năng của mình. Khi các giáo viên tham gia thi, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nghiên cứu kỹ về chương trình hơn nữa, tìm tòi những phương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức mới nhất, linh hoạt nhất. Ngay từ đầu năm học nhà trường đã xây dựng kế hoạch tổ chức các hội thi và đã thông báo tới toàn thể giáo viên để chủ động tham gia như: Thi xây dựng môi trường giáo dục, Hội giảng chào mừng ngày nhà giáo Việt nam, Thi giáo viên giỏi cấp trường . Điều đó đã có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao năng lực chuyên môn của các giáo viên. Để các hội thi thành công và có kết quả tốt, tôi tham mưu với đồng chí Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng tháng, thông báo tới toàn giáo viên để nắm được nội dung, thời gian, quy, chế thi. Sau khi hoàn thành hội giảng, hội thi ban giám hiệu tổng kết nhằm đánh giá lại những việc đã làm được, chưa làm được và xem xét lại những điểm tích cực
  15. 15 hay hạn chế, phân tích các mặt mạnh, qua đó, nhằm biểu dương những cá nhân tích cực trong việc thực hiện tốt các kỹ năng dạy học cũng như giúp đỡ những giáo viên chưa thực hiện tốt. Đưa ra phân tích, tuyên dương những tiết học hay, những tiết giáo viên có kỹ năng sư phạm tốt, hiệu quả nhất phát huy được năng lực tự học của trẻ, phân tích, nhân rộng những hình thức tổ chức tốt cho trẻ trong các hoạt động từ đó, tuyên dương, khen thưởng kịp thời để khích lệ giáo viên. Chính vì vậy đã động viên tinh thần phấn đấu của giáo viên, nâng dần chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ của nhà trường. Qua hội thi này, chúng tôi thấy giáo viên rất cố gắng và có nhiều cải tiến sáng tạo trong giảng dạy, đặc biệt tích cực hơn trong việc ứng dụng phương pháp tiên tiến. (Hình ảnh giáo viên giáo viên tham gia hội thi giáo viên dạy giỏi, thi CNTT cấp trường – Hình ảnh 3, hình ảnh 4- phần minh chứng) Việc tổ chức các hội thi trong nhà trường có tác dụng thúc đẩy sự phấn đấu vươn lên của các giáo viên. Trong các hội thi, họ có điều kiện khẳng định mình trước tập thể. Bên cạnh đó, việc tổ chức các hội thi cũng tạo được mối quan hệ thân ái, giúp đỡ nhau trong tập thể giáo viên nhà trường để cùng nhau tiến bộ. * Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên thông qua việc tổ chức các chuyên đề là một biện pháp tích cực có hiệu quả cao. Vì các hoạt động với các đề tài cụ thể sẽ là những ví dụ sinh động giúp cho giáo viên mắt thấy, tai nghe những gì mình được học ở lý thuyết. Tổ chức chuyên đề trao đổi thảo luận về xây dựng kế hoạch giúp giáo viên hiểu và chủ động linh hoạt xây dựng kế hoạch ở nhóm lớp phù hợp với điều kiện thực tế theo sự định hướng chỉ đạo của chương trình với hình thức giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Tổ chức các chuyên đề để giáo viên cọ sát chuyên môn và nâng cao kỹ năng sư phạm, đổi mới trong phương pháp giảng dạy học tốt đây là cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục, tạo môi trường sư phạm phong phú và hiệu quả phục vụ tốt cho công tác chuyên môn. Đầu năm tôi xây dựng và tổ chức ít nhất từ 2-3 chuyên đề tập chung vào các lĩnh vực mới, khó, trọng tâm của nǎm học cho giáo viên học tập, các chuyên đề về các phương pháp dạy học mới, cách lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học tích cực phù hợp cho các đối tượng, nội dung. Các phương pháp dạy học tích cực cũng được lồng ghép vào các tiết chuyên đề, hội giảng, thao giảng qua các chủ đề của tổ chuyên môn để mổ xẻ, thảo luận.Việc tổ chức chuyên đề được thực hiện nghiêm túc, bài bản nhằm chỉ đạo thực hiện các phương pháp dạy học theo mới.
  16. 16 Tăng cường tổ chức hội giảng vào các dịp thi đua chào mừng ngày 20/11, ngày 19/5. Sau khi duyệt nội dung chuyên đề của tổ chuyên môn đề xuất. Tôi đã định hướng và hướng dẫn báo cáo viên tổ chức chuyên đề, thống nhất các nội dung, phân công giáo viên thể hiện nội dung dạy học phát huy tính tích cực của học sinh bằng một số tiết dạy cụ thể được phân tích đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu chủ yếu về cách thức tổ chức, về các phương pháp và kỹ thuật dạy học kích thích tư duy học sinh. Hoạt động chuyên đề này không nhằm đánh giá giáo viên mà chỉ để rút kinh nghiệm và hướng dẫn người dạy nhìn thấy vấn đề đúng hơn, cụ thể hơn để rút kinh nghiệm, chính vì vậy nhà trường đang ngày một đổi mới đầu tư cho chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ. (Hình ảnh triển khai chuyên đề cấp trường để bồi dưỡng giáo viên – Hình ảnh 5 - phần minh chứng) Việc tổ chức tốt các chuyên đề đã góp phần nâng cao chất lượng cho giáo viên, giáo viên có thêm được nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, họ càng tích cực tự bản thân thấy được năng lực thực sự của mình để từ đó họ có ý thức tự học tập bồi dưỡng cho bản thân. Qua đó còn giúp giáo viên mạnh dạn hơn khi được đứng trước tập thể đông giáo viên, rèn luyện thêm về tác phong sư phạm chững chạc hơn, năng động, sáng tạo hơn, nắm vững chuyên môn, phương pháp, đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động dạy học trong các hoạt động dạy học cho trẻ. 2.4.Giải pháp: Tǎng cuờng kiểm tra, đáng giá, giúp đỡ giáo viên, nhân rộng những sáng kiến hay. Bác Hồ đã nói về công tác lãnh đạo về công tác kiểm tra đáng giá như sau: “Kiểm tra để phòng ngừa vi phạm, để chủ động phát hiện và sử lý vi phạm, thông qua kiểm tra để giáo dục thuyết phục . Kiểm tra là một chức năng quan trọng của lãnh đạo. Nếu lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có chức năng lãnh đạo ”. Vận dụng câu nói này tôi đã áp dụng vào trong công tác kiểm tra và đôn đốc kiểm tra thường xuyên đối với giáo viên trong công tác giáo dục trẻ, thường xuyên kiểm tra để giúp cán bộ quản lý năm bắt được khả năng thực hiện chương trình Giáo dục mầm non của giáo viên, để từ đó bổ sung, góp ý và truyền đạt đồng thời rút kinh nghiệm cho những đợt triển khai thực hiện chuyên đề lần sau. Công tác kiểm tra thường xuyên của người quản lý còn giúp cho khoảng cách giữa người quản lý và giáo viên được gần gũi hơn. Giáo viên không còn có cảm giác “lo sợ” mỗi khi Ban giám hiệu, tổ chuyên môn đến kiểm tra mà luôn
  17. 17 có tư tưởng Ban giám hiệu đến kiểm tra để giúp đỡ giáo viên xem họ cần gì về cơ sở vật chất, về chuyên môn, đề xuất ý kiến của giáo viên là gì để nâng cao chất lượng chuyên môn. Thông qua kế hoạch thanh tra, kiểm tra giúp cho giáo viên định hướng được công việc cần làm theo từng tuần, từng tháng, từng chuyên đề hay từng học kỳ từ đó giáo viên chú trọng chuyên tâm đến chất lượng công việc hơn, tránh làm vội vàng cho xong việc hoặc làm chiếu lệ. Kiểm tra là một chức năng quan trọng, vừa là một biện pháp quản lý có hiệu quả. Kiểm tra việc thực hiện bồi dưỡng chuyên môn nắm được đầy đủ những thông tin cần thiết về tình hình thực hiện chuyên môn, đánh giá đúng phẩm chất năng lực của giáo viên, phát hiện đúng những lệch lạc, thiếu sót để kịp thời bổ sung, điều chỉnh và uốn nắn giáo viên nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động chuyên môn của giáo viên, qua kiểm tra nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ đối với công việc, nâng cao ý thức tự bồi dưỡng phấn đấu đáp ứng được yêu cầu chuyên môn của nhà trường. Vì vậy để công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên đạt hiệu quả cao nhất, cán bộ quản lý không được phép buông lỏng công tác kiểm tra. Để công tác kiểm tra việc thực hiện bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên đạt hiệu quả cao nhất, cán bộ quản lý cần đảm bảo: + Xác định rõ mục đích yêu cầu của từng đợt kiểm tra dựa trên yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của nhà trường của năm học. + Phải có kế hoạch cụ thể trên cơ sở kế hoạch kiểm tra cả năm, học kỳ, đi sâu vào kế hoạch từng đợt kiểm tra xác định rõ mục đích yêu cầu, nội dung, hình thức, phương pháp kiểm tra. Về nội dung kiểm tra: kiểm tra về qui chế chuyên môn, hồ sơ sổ sách, bồi dưỡng chuyên môn, phương pháp dạy, cách trang trí nhóm lớp để đánh giá tình hình triển khai và thực hiện chuyên môn của giáo viên có đúng như kế hoạch mà trường đã chỉ đạo hay không . Để công tác kiểm tra, đánh giá đạt hiệu quả cao nhất, ngay từ đầu năm sau khi nghiên cứu công văn hướng dẫn công tác kiểm tra nội bộ của phòng giáo dục, tôi phối kết hợp với các đồng chí trong ban giám hiệu tiến hành xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ của trường với các nội dung kiểm tra cụ thể trên từng đối tượng, từng lĩnh vực theo từng tháng, từng học kỳ. Đi vào kế hoạch từng đợt với các hình thức, phương pháp kiểm tra như: Hàng tháng Ban giám hiệu dự giờ mỗi giáo viên ít nhất là hai hoạt động, những giáo viên yếu kém thường được dự thêm giờ để kịp thời uốn nắn điều
  18. 18 chỉnh những phần còn hạn chế, từ đó tiếp tục có biện pháp bồi dưỡng giáo viên hiệu quả hơn trong các năm tiếp theo. Kiểm tra toàn diện, kiểm tra chuyên đề, kiểm tra theo định kỳ, kiểm tra đột xuất 100% giáo viên. Kiểm tra dưới nhiều hình thức: Báo trước, không báo trước, kiểm tra định kỳ, có thể kiểm tra qua hồ sơ sổ sách, kế hoạch tháng - ngày, kiểm tra thực hiện chế độ sinh hoạt, qua chuẩn bị đồ dùng, kiểm tra qua báo cáo của tổ chuyên môn, qua khảo sát trên trẻ. (Hình ảnh giáo viên được dự giờ đột xuất – Hình ảnh 6 - phần minh chứng) Qua các buổi dự giờ ban giám hiệu, tổ trưởng, tổ phó tổ chuyên môn đóng góp ý kiến cho giáo viên được dự, từ việc làm hồ sơ sổ sách của lớp cho đến trang trí môi trường lớp học, nề nếp của học sinh, và các thiếu sót trong hình thức tổ chức hoạt động học, hoạt động vui chơi cho trẻ, hoặc hoạt động vệ sinh phù hợp hơn. Mỗi lần như vậy giáo viên thấy tự tin hơn, hiểu kỹ hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục chuyên môn cho giáo viên. Kết quả kiểm tra, dự giờ được lưu lại ở hồ sơ giáo viên đầy đủ để làm cơ sở cho việc đánh giá cuối năm và xét thi đua cá nhân của nhà trường. Nhân rộng, lan tỏa những sáng kiên kinh nghiệm hay cấp huyện, cấp thành phố. Chia sẻ các hoạt động có hiệu quả và những tài liệu hay hoặc các thông tin bổ ích phục vụ cho công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ để bạn đồng nghiệp cùng trao đổi, học tập lẫn nhau. 2.5. Giải pháp: Chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt các mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo duc mầm non. Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực, phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế. Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một. Nội dung giáo dục mầm non phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em; hài hòa giữa bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng với giáo dục trẻ em; phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, kỹ năng xã hội, trí tuệ, thẩm mỹ; tôn trọng sự khác biệt; phù hợp với các độ tuổi và liên thông với giáo dục tiểu học.
  19. 19 Phương pháp giáo dục mầm non phải tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em được tích cực hoạt động, vui chơi, tạo sự gắn bó giữa người lớn với trẻ em; kích thích sự phát triển các giác quan, cảm xúc và các chức năng tâm sinh lý; trẻ em được vui chơi, trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh bằng nhiều hình thức, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ em. Với mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo duc mầm non trên tôi đã đưa ra một số giải pháp sau: * Xây dựng chương trình, kế hoạch dạy học theo từng tháng, học kì, năm học phù hợp với thực tế và khả năng của trẻ. Xây dựng mục tiêu, nội dung nâng cao nhằm tạo thương hiệu của nhà trường. Xây dựng kế hoạch giáo dục theo chương trình bộ ban hành. Xây dựng các mục tiêu, nội dung giáo dục nâng cao để phát huy thế mạnh khẳng định thương hiệu của nhà trường.Tăng cường lồng ghép giáo dục kỹ năng sống, lễ giáo, an toàn giao thông.... Xây dựng kế hoạch, lựa chọn nội dung áp dụng phương pháp giáo dục tiên tiến Steam, Montessori phù hợp với thực tế nhà trường. Tǎng cường tổ chức các ngày hội ngày lễ, các hội thi, giáo dục kỹ năng sống, tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho trẻ, lồng ghép giáo dục lễ giáo,an toàn giao thông, văn hóa dân gian, nếp sống thanh lịch, văn minh phù hợp với độ tuổi... cho trẻ theo phương châm “Học thông qua vui chơi trải nghiệm”,“học qua chơi”phù hợp với các độ tuổi. * Đổi mới phương pháp, hình thức giảng dạy, tăng cường ứng dụng các phương pháp giáo dục tiên tiến và CNTT vào dạy trẻ. Kế thừa các phương pháp giáo dục truyền thống, tiếp tục thực hiện phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, tiếp cận các phương pháp giáo dục tiên tiến Steam, Montessori phù hợp với điều kiện thực tế nhà trường và yêu cầu đổi mới giáo dục. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của trẻ. Tạo cơ hội cho trẻ phát huy tích cực khám phá, trải nghiệm và sáng tạo theo phương châm “Học thông qua vui chơi trải nghiệm”, “học qua chơi” phù hợp với các độ tuổi ở trẻ. Điều tra, khảo sát chất lượng trẻ đầu vào để xác định các phương pháp giáo dục phù hợp. Tôn trọng sự khác biệt của trẻ, tạo điều kiện để trẻ phát huy năng lực cá nhân. Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy theo xu hướng linh hoạt, hiện đại phù hợp đối tượng trẻ và yêu cầu đổi mới giáo dục. Tăng cường xây dựng các hoạt động phù hợp có thể ứng dụng công nghệ thông tin như: Khám phá khoa học, Hoạt động làm quen với toán, Hoạt động âm
  20. 20 nhạc, Hoạt động tạo hình, Làm quen với văn học, chữ cái, hoạt động khác (Hình ảnh giáo viên tổ chức hoạt động đổi mới phương pháp, hình thức dạy học – Hình ảnh 7 - phần minh chứng) * Đổi mới công tác xây dựng môi trường giáo dục trẻ, đồ dùng dạy học Xây dựng môi trường giáo dục phù hợp, có tính mở, lựa chọn các nguyên vât liệu, đồ dùng dạy học phong phú, an toàn, pháp huy sự sáng tạo của trẻ. Xây dựng môi trường giáo dục, lựa chọn các nguyên vật liệu phù hợp áp dụng phương pháp giáo dục tiên tiến. Tiếp tục thực hiện tốt giai đoạn 2 chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm”, “trường, lớp mầm non hạnh phúc” thực hiện tốt chủ đề của năm học “Xây dựng trường, lớp mầm non xanh – sạch – đẹp - an toàn - hạnh phúc”. Bổ sung mua sắm đồ dùng, trang thiết bị phục vụ cho việc xây dựng môi trường giáo dục phù hợp với chương trình GDMN mới và các nội dung dạy học hiện đại. * Tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho trẻ Tổ chức tốt ngày hội, ngày lễ, các hội thi trong nhà trường để tạo nguồn lực hỗ trợ, tăng hiệu quả công tác xã hội hóa giáo dục để quảng bá thương hiệu nhà trường. Tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống, tổ chức trải nghiệm sáng tạo cho trẻ. * Đổi mới công tác đánh giá sự phát triển của trẻ Ðổi mới công tác đánh giá sự phát triển của trẻ, đánh giá dựa trên cơ sở sự thay đổi của từng trẻ, không kỳ vọng giống nhau với tất cả trẻ. Tôn trọng sự khác biệt của mỗi đứa trẻ về cách thức và tốc đô học tập và phát triển riêng, điều chỉnh kế hoạch phù hợp để tạo điều kiện cho trẻ phát huy năng lực cá nhân. Đánh giá đúng khả năng của mỗi trẻ để có những tác động phù hợp và tôn trọng những gì trẻ có. Đánh giá dựa trên cơ sở sự thay đổi của từng trẻ, không kỳ vọng giống nhau với tất cả trẻ. Đánh giá sự tiến bộ của từng trẻ dựa trên mức độ đạt so với mục tiêu, trên cơ sở đó xây dựng, điều chỉnh kế hoạch giáo dục và tổ chức các hoạt động giáo dục tiếp theo cho phù hợp với khả năng, nhu cầu, sở thích, kinh nghiệm sống của trẻ và điều kiện thực tế của trường, lớp. Tôn trọng sự khác biệt của mỗi đứa trẻ về cách thức và tốc độ học tập và phát triển riêng. Chú trọng và thúc đẩy tiềm năng của mỗi trẻ. * Nâng cao hiệu quả công tác truyền thông và công tác phối hợp với phụ huynh.