SKKN Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - Nuôi dưỡng trẻ trong Trường mầm non - Đỗ Thị Thu Nhung

pdf 37 trang Anh Túc 19/09/2026 40
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "SKKN Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - Nuôi dưỡng trẻ trong Trường mầm non - Đỗ Thị Thu Nhung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_bien_phap_xay_dung_thuc_don_nham_nang_cao_chat_luong_ch.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - Nuôi dưỡng trẻ trong Trường mầm non - Đỗ Thị Thu Nhung

  1. ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON CHÂU SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Tên sáng kiến: “Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non” Tên Tác giả: Đỗ Thị Thu Nhung Đơn vị công tác: Trường Mầm non Châu Sơn Chức vụ: Nhân viên Năm 2024
  2. 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm trường mầm non Châu Sơn; Hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm Huyện Ba Vì. Trình độ Họ và Ngày tháng Nơi công Chức chuyên Tên sáng kiến tên năm sinh tác danh môn Biện pháp xây dựng Đỗ Thị Trường Mầm thực đơn nhằm nâng Thu 05/02/1985 non Châu Nhân viên Cao đẳng cao chất lượng chăm Nhung Sơn sóc - nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non 1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực có thể áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực Nuôi dưỡng. Vấn đề mà sáng kiến giải quyết: Đưa ra các giải pháp để xây dựng thực đơn đạt về lượng cân đối về chất, đảm bảo đúng quy định để nâng cao chất lượng chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. 2. Tên sáng kiến đề nghị công nhận: Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. 3. Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Từ tháng 9/2023 đến tháng 4/2024 tại trường Mầm non Châu Sơn. 4. Mô tả bản chất của sáng kiến: Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. Sáng kiến trình bày theo đúng thể thức văn bản khoa học. Kết cấu sáng kiến gồm ba phần ( Đặt vấn đề, nội dung sáng kiến, kiến nghị, đề xuất). Sáng kiến đã đưa ra một số giải pháp cụ thể xây dựng thực đơn đạt về lượng, cân đối về chất cho trẻ trong trường mầm non nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, giúp trẻ ăn ngon miệng, để công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của nhà trường đạt kết quả tốt nhất, đồng thời tạo niềm tin đối với phụ huynh khi gửi con em mình tới trường. Các giải pháp thực hiện: Giải pháp 1: Tích cực tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân. Giải pháp 2: Xây dựng thực đơn, đảm bảo khẩu phần ăn cho trẻ. Giải pháp 3: Sử dụng phần mềm tính khẩu phần ăn hàng ngày của trẻ.
  3. 3 Giải pháp 4: Lựa chọn đa dạng, phối hợp các loại thực phẩm để có nhiều món ăn ngon, đủ chất dinh dưỡng cho trẻ. Giải pháp 5: Xây dựng mô hình vườn rau sạch, đa dạng, đúng mùa vụ nhằm ổn định nguồn thực phẩm cho bữa ăn của trẻ. Giải pháp 6: Thường xuyên khảo sát bữa của trẻ tại các lớp để nắm được tâm lý, thói quen và sở thích ăn uống của trẻ. 5. Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không 6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Đối với nhân viên: Nhân viên luôn được sự chỉ đạo và giúp đỡ, quan tâm thường xuyên, kịp thời của BGH nhà trường và tổ chuyên môn. Nhân viên được học hỏi các chuyên đề, bồi dưỡng chuyên môn vững vàng, nắm chắc kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Nhân viên được sự ủng hộ và quan tâm nhiệt tình của phụ huynh học sinh và sự giúp đỡ, góp ý nhiệt tình của đồng nghiệp. Đối với phụ huynh: Luôn quan tâm, ủng hộ phối hợp và động viên kịp thời con em mình trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại gia đình và tại trường. Đối với Ban giám hiệu: Nhà trường trang bị đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ công tác chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường. Triển khai các chuyên đề nuôi dưỡng để nhân viên được trao đổi, thảo luận về các biện pháp xây dựng thực đơn, nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. 7. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: Hiệu quả về kinh tế: Sau khi áp dụng các giải pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường bản thân tôi và toàn thể nhà trường đã đạt được những hiệu quả rõ rệt: Kỹ năng về xây dựng thực đơn của cô nuôi ngày càng nâng cao, đảm bảo khẩu phần ăn của trẻ được đầy đủ, không lãng phí thực phẩm. Hàng ngày, tôi cùng nhân viên trong tổ nuôi dưỡng lên thực đơn mẫu đạt về lượng, cân đối về chất trong ngân hàng thực đơn của nhà trường vì vậy tôi tiết kiệm được thời gian trong quá trình cân đối thực đơn hàng ngày cho trẻ. Việc xây dựng mô hình vườn rau sạch đã cung cấp một phần nguồn thực phẩm tại chỗ cho trẻ, nhờ đó trẻ được ăn những thực phẩm đảm bảo an toàn, tươi ngon, giá thành phù hợp. Hiệu quả về xã hội: Đối với trẻ: Trẻ được ăn theo thực đơn mà tôi và các đồng nghiệp xây dựng. Trẻ ăn ngon miệng hơn, ăn hết khẩu phần của mình, trẻ thích được ăn cơm ở trường
  4. 4 hơn ở nhà. Trẻ phát triển toàn diện về thể chất và mọi mặt, chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường ngày càng được nâng cao. Đối với nhân viên nuôi dưỡng: Ngày càng nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc, không ngừng học hỏi, sáng tạo, và xây dựng được nhiều món ăn ngon, đầy đủ dinh dưỡng cho trẻ. Đối với phụ huynh: Phụ huynh học sinh hoàn toàn tin tưởng khi gửi gắm con em mình ăn bán trú tại nhà trường. Phụ huynh luôn đồng hành, ủng hộ và động viên kịp thời trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Đối với xã hội: Nhà trường luôn nhận được sự ủng hộ, quan tâm của các cấp, các ngành, các Đoàn thể và nhân dân địa phương nhờ vậy mà công tác chăm 8. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: Không Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Châu Sơn, ngày 30 tháng 04 năm 2024 Người yêu cầu (Ký và ghi rõ họ tên) Đỗ Thị Thu Nhung
  5. 5 UBND HUYỆN BA VÌ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG MN CHÂU SƠN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHIẾU NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ - Họ tên tác giả: Đỗ Thị Thu Nhung - Tên đề tài: Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. - Lĩnh vực: Nuôi dưỡng STT Tiêu chuẩn Điểm tối đa 1 Sáng kiến có tính mới 1.1 Hoàn toàn mới, được áp dụng đầu tiên 30 1.2 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ khá 20 1.3 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ trung bình 10 1.4 Không có tính mới hoặc sao chép từ các giải pháp đã có trước đây 0 Nhận xét: SK có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ khá, một số giải pháp mới ( Đạt 25 điểm ) 2 Sáng kiến có tính áp dụng 2.1 Có khả năng áp dụng trong phạm vi toàn ngành hoặc rộng hơn 30 2.2 Có khả năng áp dụng trong đơn vị và có thể nhân ra một số đơn vị có 20 cùng điều kiện 2.3 Có khả năng áp dụng trong đơn vị 10 2.4 Không có khả năng áp dụng trong đơn vị 0 Nhận xét: Có khả năng áp dụng trong đơn vị và trong ngành ( Đạt 25 điểm ) 3 Sáng kiến có tính hiệu quả 3.1 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có tính lan tỏa 30 3.2 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội 20 3.3 Có hiệu quả, lợi ích phù hợp với mức độ phù hợp tại đơn vị 10 3.4 Không có hiệu quả cụ thể 0 Nhận xét: Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội (Đạt 20 điểm ) 4 Điểm trình bày 4.1 Trình bày khoa học, hợp lý 10 4.2 Trình bày chưa khoa học, chưa hợp lý 5 Nhận xét: SK được trình bày khoa học, hợp lý( Đạt 10 điểm ) Tổng cộng: 80 điểm Đánh giá:  Đạt (>70 điểm) □Không đạt CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CƠ SỞ
  6. 6 MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. 1 1.1. Cơ sở lý luận 1 1.2. Cơ sở thực tiễn 1 2. Mục tiêu của đề tài sáng kiến 2 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2 PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 3 1. Hiện trạng của vấn đề 3 1.1. Đặc điểm tình hình 3 1.2. Số liệu khảo sát trước khi thực hiện 4 1.3. Những hạn chế trong công tác xây dựng thực đơn của nhân 5 viên trong nhà trường. 1.4. Sự cần thiết phải xây dựng thực đơn, nâng cao chất lượng 5 chăm sóc nuôi dưỡng trẻ 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 6 2.1. Tên các giải pháp 6 2.2. Cách thức thực hiện từng giải pháp 6 3. Kết quả sau khi áp dụng sáng kiến tại đơn vị 16 4. Hiệu quả của sáng kiến 18 4.1. Hiệu quả về khoa học 18 4.2. Hiệu quả về kinh tế 18 4.3. Hiệu quả về xã hội 18 5. Tính khả thi 19 6. Thời gian thực hiện đề tài sáng kiến 19 7. Kinh phí thực hiện đề tài sáng kiến 19 PHẦN III: KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 20 1. Kiến nghị 20 2. Đề xuất 20
  7. 7 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. 1.1. Cơ sở lý luận: Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người” Câu nói trên đã gắn liền với sự nghiệp giáo dục và là mục tiêu quan trọng bậc nhất của ngành giáo dục trong mọi thời đại. Bởi trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình là tài sản quí giá của dân tộc. Đồng thời đó cũng là những chủ nhân tương lai của đất nước. Bác luôn coi “Con người là vốn quý nhất của xã hội, sức khoẻ là vốn quý nhất của con người”, để có một tương lai tuổi trẻ thì chúng ta không thể bỏ qua một yếu tố ban đầu đó là “Sức khoẻ của tuổi thơ”. Ở độ tuổi này, trẻ cần được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt để trẻ sớm phát triển về thể chất và trí tuệ một cách đúng hướng và mạnh mẽ. Mỗi giai đoạn phát triển của con người đều có đặc điểm sức khỏe riêng và có những yêu cầu chăm sóc sức khỏe phù hợp. Trẻ em ở lứa tuổi mầm non nếu được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt sẽ có một sức khỏe tốt và đó là tiền đề cho sự phát triển của trẻ sau này. Luật bảo vệ chăm sóc trẻ em cũng đã nêu rõ: “ Sức khoẻ của trẻ em hôm nay là sự phồn vinh cho xã hội mai sau”. Như vậy, có thể thấy: Đảng và nhà nước ta đã và đang rất quan tâm đến việc chăm sóc sức khoẻ trẻ em và xem việc nâng cao sức khoẻ cho trẻ em là vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển con người. Đặc biệt đối với lứa tuổi mầm non, trẻ đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ, cơ thể còn non yếu cần được chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý để trẻ phát triển cân đối về mọi mặt: thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ. Để đạt được mục tiêu phát triển toàn diện ấy thì việc kết hợp hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục trẻ là điều tất yếu. Trong đó, chế độ dinh dưỡng hợp lý là yếu tố có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất của trẻ. Mà muốn có được một chế độ dinh dưỡng hợp lý thì phải xây dựng được thực đơn cân đối, đủ dinh dưỡng cho trẻ ở lứa tuổi mầm non. 1.2. Cơ sở thực tiễn: Tại trường mầm non Châu Sơn nơi tôi công tác, việc xây dựng thực đơn đạt về lượng, cân đối về chất giúp trẻ phát triển thể lực và trí lực căn cứ vào những nội dung sau: Thực đơn cần đảm bảo đủ lượng Calo, cân đối các chất Protein – Lipid – Glucid, thực đơn đa dạng, phong phú, kết hợp nhiều loại thực phẩm, theo mùa, phù hợp với nguồn thực phẩm tại địa phương, đảm bảo chế độ tài chính và vệ sinh an toàn thực phẩm. Tại trường, các cháu được ăn mức 18.000 đồng/ngày. Chế độ này được áp dụng đại trà cho tất cả học sinh nhà trẻ và mẫu giáo. Với mức ăn này, để xây dựng một khẩu phần ăn đủ chất dinh dưỡng phải biết kết hợp thực phẩm như thế nào cho hợp lý, đó là cả một vấn đề mà tôi luôn quan tâm. Vì tiền ăn của trẻ còn thấp, nên chất lượng bữa ăn
  8. 8 của trẻ đôi khi còn chưa cân đối. Cân đối chất lượng bữa ăn trong ngày giữa các bữa trưa, bữa phụ chiều, bữa chính chiều đôi khi còn chưa đạt. Do đặc điểm ở trường nơi tôi công tác là trường nông thôn, đa phần các bậc phụ huynh có thu nhập thấp chưa ổn định nên họ chưa quan tâm nhiều đến sự phát triển về thể chất cho trẻ. Chất lượng các bữa ăn cho trẻ tại nhiều gia đình chưa đảm bảo cộng thêm về trình độ dân trí, hiểu về phương thức chăm sóc nuôi dưỡng trẻ theo khoa học chưa cao nên số trẻ trong độ tuổi mầm non trong nguy cơ bị suy dinh dưỡng và số trẻ bị suy dinh dưỡng còn cao. Nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non là trách nhiệm của toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường. Trong năm học 2023 – 2024, được sự tin tưởng của Ban giám hiệu, tôi được phân công nhiệm vụ là tổ trưởng tổ nuôi dưỡng, đó cũng là điều kiện thuận lợi để tôi cùng với các đồng chí nhân viên trong tổ nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân đồng thời tìm ra một số biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường. Bản thân tôi là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, tôi luôn trăn trở tìm mọi cách nghiên cứu xây dựng những thực đơn hợp lý, đạt về lượng, cân đối về chất, trẻ ăn ngon miệng, để nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở trường Mầm non. Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn đưa ra: “Biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm cho bản thân trong năm học 2023 - 2024. 2. Mục tiêu của đề tài sáng kiến: Nghiên cứu, tìm ra các biện pháp xây dựng thực đơn đạt về lượng, cân đối về chất cho trẻ trong trường mầm non nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, giúp trẻ ăn ngon miệng, để công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của nhà trường đạt kết quả tốt nhất, đồng thời tạo niềm tin đối với phụ huynh khi gửi con em mình tới trường. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 3.1. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2023 đến tháng 4 năm 2024. 3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp xây dựng thực đơn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. 3.3. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cúu trên 210 trẻ mầm non từ 18 tháng đến 72 tháng tuổi tại trường mầm non nơi tôi công tác.
  9. 9 PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng của vấn đề: 1.1 Đặc điểm tình hình: Trường mầm non tôi công tác là một trường nhỏ, trẻ tập trung tại một điểm trường. Trong năm học vừa qua, nhà trường đã rất quan tâm và chú trọng tới công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Chính vì vậy chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ngày càng đạt kết quả cao. Đảm bảo 100% trẻ ăn bán trú tại trường, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi, béo phì đã giảm so với năm học trước, không để tình trạng ngộ độc thực xảy ra tại trường, thường xuyên thay đổi thực đơn đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ tại trường. Tuy nhiên Ban giám hiệu, giáo viên, nhân viên chúng tôi vẫn cần phải nỗ lực hơn nữa để chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ngày càng đạt được nhiều kết quả tốt hơn. Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, tôi gặp những thuận lợi và khó khăn sau: 1.1.1. Thuân lợi: Được sự quan tâm chỉ đạo của phòng Giáo dục & Đào tạo huyện Ba Vì, trong những năm qua, trường mầm non chúng tôi đã thực hiện có hiệu quả việc tính khẩu phần ăn trên phần mềm Gokids. Bếp ăn của nhà trường vừa mới xây dựng khang trang, sạch sẽ, đúng theo quy trình bếp một chiều, cơ sở vật chất trang thiết bị, đồ dùng phục vụ công tác nuôi dưỡng tương đối đầy đủ và theo hướng hiện đại. Nhà trường ký kết hợp đồng mua thực phẩm sạch, ưu tiên nguồn thực phẩm của người dân địa phương sản xuất. Đặc biệt trong năm học 2023 – 2024 nhà trường đã sử dụng toàn bộ nguồn nước sạch phục vụ công tác ăn bán trú tại trường, nhờ vậy nguồn nước luôn đảm bảo ổn định và sạch sẽ. Bản thân tôi có trình độ trên chuẩn, có lòng nhiệt huyết, yêu nghề, mến trẻ, có năng lực chuyên môn, có khả năng sử dụng phần mềm nuôi dưỡng tương đối thành thạo. Và đặc biệt, tôi được làm việc với những cô nuôi có tình thần đoàn kết, sẵn sàng hỗ trợ nhau trong công việc. 1.1.2. Khó khăn: Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài những thuận lợi trên, tôi nhận thấy còn có một số khó khăn sau: Do đặc điểm của địa phương là một xã thuần nông, kinh tế chủ yếu dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp nên đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Do đó, những kiến thức về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của người dân còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, một số phụ huynh đi làm xa nên chưa thực sự quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng con em mình ở gia đình cũng như ở nhà trường. Giá cả thị trường thường xuyên biến động, mức ăn của trẻ còn chưa cao cho nên muốn xây dựng thực đơn với những món ăn ngon và đầy đủ chất cho trẻ vẫn chưa thực sự đạt được kết quả như mong muốn.
  10. 10 Mức tiền ăn của trẻ còn thấp nên cũng gặp khó khăn trong việc tính khẩu phần ăn và cân đối tỷ lệ các chất dinh dưỡng cho trẻ. Phải xây dựng thực đơn theo chế độ ăn cho nhiều độ tuổi gây khó khăn cho việc xây dựng thực đơn. Nhà trường chưa có thiết bị hiện đại để kiểm soát vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Do điều kiện thời tiết khắc nghiệt, đặc biệt là lúc giao mùa rất khó để tìm được đầy đủ các loại thực phẩm như trong thực đơn. Do vậy, bản thân tôi là người trực tiếp xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn hàng ngày cho trẻ, cần phải linh động hơn trong việc lên thực đơn cho trẻ và cần phải chủ động tìm nguồn thực phẩm để thay thế. 1.2. Số liệu khảo sát trước khi thực hiện: Để thực hiện tốt các nội dung trong việc xây dựng thưc đơn, nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non, ngay sau khi khai giảng, ổn định trẻ tại các lớp, tôi đã tiến hành thu thập số liệu, qua theo dõi tôi đã có đầy đủ bảng khảo sát sau: * Bảng khảo sát cân đo chấm biểu đồ đầu năm của trẻ: Nội dung khảo sát Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ cân đo 210 100 Số trẻ có cân nặng bình thường 192 91,4 Số trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng 9 4,3 Số trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 7 3,3 Số trẻ thừa cân 2 1,0 Số trẻ béo phì 0 Số trẻ có chiều cao bình thường 193 91,9 Số trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng thể thấp còi 10 4,8 Số trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi 7 3,3 Bảng khảo sát cân đo chấm biểu đồ tháng 9 năm 2023 của trẻ. Qua bảng khảo sát trên tôi nhận thấy: Số trẻ có cân nặng bình thường, số trẻ có chiều cao bình thường chiếm tỷ lệ chưa cao (91,4 % và 91,9 %). Trong khi số trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng (4,3%), số trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (3,3%), số trẻ có nguy cơ bi suy dinh dưỡng thể thấp còi (4,8%), số trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi (3,3%) là vẫn còn cao, vẫn còn 2 trẻ thừa cân chiếm tỷ lệ là 1%. Khi tập hợp được kết quả chấm biểu đồ về cân nặng chiều cao của trẻ đầu năm, tôi đặt ra cho mình mục tiêu là tìm ra các biện pháp để xây dựng thực đơn đạt về lượng, cân đối về chất để tăng tỷ lệ trẻ có chiểu cao, cân nặng bình thường, giảm tỷ lệ
  11. 11 trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng, trẻ suy dinh dưỡng ở thể nhẹ cân và thấp còi, trẻ thừa cân, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường. 1.3. Những hạn chế trong công tác xây dựng thực đơn của nhân viên trong nhà trường. Mặc dù hàng năm, nhà trường luôn quan tâm và sát sao trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, nhưng do mức ăn của trẻ các năm học trước còn chưa cao, việc xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn hàng ngày chưa thật sự đạt kết quả như mong muốn. Thực đơn của các tuần chẵn và các tuần lẻ còn có sự giống nhau. Các món ăn còn đơn điệu, chưa có sự kết hợp khéo léo và hợp lý giữa các loại thực phẩm, thường áp dụng trong nhiều tháng khiến trẻ cảm thấy nhàm chán, không có sự hứng thú cao trong bữa ăn. Màu sắc một số món ăn chưa hấp dẫn nên chưa gây hứng thú cho trẻ. Một số thực đơn chưa kết hợp thực phẩm có giá thành cao với thực phẩm có giá thành thấp đảm bảo tài chính mà vẫn cân đối các chất. Nhân viên tính khẩu phần ăn cho trẻ còn chưa thành thạo việc cân đối khẩu phần ăn trên phần mềm Gokids nên khi xây dựng thực đơn còn chưa đạt chuẩn, chưa cân đối được về lượng và chất đạt theo yêu cầu cho từng độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo. Chưa tích cực trong việc nắm bắt tấm lý, tìm hiểu thói quen, sở thích ăn uống của trẻ để lên thực đơn phù hợp nhất. 1.4. Sự cần thiết phải xây dựng thực đơn, nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Chế độ dinh dưỡng hợp lý đóng vai trò rất quan trọng đến việc phát triển trí tuệ, thể chất của trẻ em. Trẻ ở lứa tuổi mầm non rất cần một chế độ dinh dưỡng hợp lý để tránh không quá dư thừa chất dẫn đến béo phì, nhưng cũng không quá thiếu hụt làm trẻ bị suy dinh dưỡng. Vì vậy, bữa ăn của trẻ cần phải được đảm bảo đầy đủ đạm, béo, bột đường, vitamin và khoáng chất. Sơ đồ mối quan hệ qua lại giữa dinh dưỡng – sức khỏe và phát triển cơ thể
  12. 12 Hiểu được vai trò của dinh dưỡng đối với trẻ và nắm được nguyên tắc chung về dinh dưỡng cho trẻ mầm non. Bản thân tôi đã cố gắng tìm ra các biện pháp để xây dựng thực đơn cho trẻ một cách đa dạng, đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ. Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường. 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề. 2.1. Tên các giải pháp: Giải pháp 1: Tích cực tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân. Giải pháp 2: Xây dựng thực đơn, đảm bảo khẩu phần ăn cho trẻ. Giải pháp 3: Sử dụng phần mềm xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn hàng ngày của trẻ. Giải pháp 4: Lựa chọn đa dạng, phối hợp các loại thực phẩm để có nhiều món ăn ngon, đủ chất dinh dưỡng cho trẻ. Giải pháp 5: Xây dựng mô hình vườn rau sạch, đa dạng, đúng mùa vụ nhằm ổn định nguồn thực phẩm cho bữa ăn của trẻ. Giải pháp 6: Thường xuyên khảo sát bữa của trẻ tại các lớp để nắm được tâm lý, thói quen và sở thích ăn uống của trẻ. 2.2. Cách thức thực hiện từng giải pháp: 2.2.1. Giải pháp 1: Tích cực tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân. “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” Câu nói bất hủ của Lê - Nin đã in sâu trong tâm trí tôi và thôi thúc tôi không ngừng học hỏi để ngày càng hoàn thiện bản thân cũng như nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Đối với mỗi con người, dù làm bất cứ một công việc gì chúng ta không chỉ làm việc mà phải luôn luôn tìm tòi học hỏi để trình độ chuyên môn của mình được tốt hơn. Đặc biệt với bản thân tôi là người trực tiếp lên thực đơn và chế biến ra các món ăn để chăm sóc sức khỏe cho trẻ tại trường, thì việc tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cũng rất quan trọng để có kiến thức đáp ứng công việc nhà trường phân công. Nhận thức được tầm quan trọng của việc tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, bản thân tôi đã tích cực tìm tòi học hỏi, nghiên cứu qua internet, qua các tài liệu về dinh dưỡng, qua sách báo trong thư viện của nhà trường, học tập ở bạn bè đồng nghiệp để bản thân tôi ngày càng hiểu sâu hơn về xây dựng thực đơn cho trẻ và làm tốt được công việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường. Mỗi ngày, sau khi kết thúc giờ làm việc, tôi lên thư viện nhà trường để đọc sách, tìm hiểu tài liệu về dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ khoa học. Vào các tối
  13. 13 thứ Bẩy, Chủ Nhật tôi đều dành thời gian cho việc nghiên cứu tài liệu qua mạng Internet, nhất là cách xây dựng thực đơn cho trẻ mầm non. Ngoài ra, tôi học tập, bồi dưỡng thông qua hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường, cấp huyện (nếu tổ chức). Hàng năm, nhà trường tổ chức hội thi nhân viên giỏi cấp trường, tôi rất phấn khởi và say mê tìm tòi, nghiên cứu, xây dựng thực đơn, được ban giám hiệu duyệt thực đơn và cho áp dụng tại hội thi. Qua hội thi, tôi rút ra được nhiều kinh nghiệm cho bản thân mình. Chỉ có lòng nhiệt huyết, yêu nghề mến trẻ thôi chưa đủ, mà mỗi chúng ta hãy tự học, tự trau dồi kiến thức, kỹ năng xây dựng thực đơn của mình, để mang lại cho trẻ nhiều món ăn ngon, bổ dưỡng, đạt về lượng, cân đối về chất theo quy định. Tôi học tập, bồi dưỡng thông qua các buổi tập huấn chuyên đề nuôi dưỡng do phòng giáo dục và nhà trường tổ chức. Ngày 28/11/2023, tôi được đi tiếp thu chuyên đề: "Xây dựng mô hình sinh thái trong cơ sở giáo dục mầm non và Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý chăm sóc nuôi dưỡng trẻ năm học 2023- 2024" tại trường mầm non Cam Thượng. Qua buổi tiếp thu chuyên đề này, tôi học được kiến thức, kỹ năng xây dựng và phát triển các nội dung khai thác mô hình sinh thái trong nuôi dưỡng, giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong nhà trường. Đồng thời, tôi tham khảo được ở trường bạn những thực đơn với nhiều món ăn ngon, hấp dẫn trẻ, đặc biệt là việc bổ sung thêm món rau xào trong mỗi bữa ăn của trẻ. Từ đó tôi có thêm kiến thức, kỹ năng trong cách xây dựng thực đơn cho trẻ tại nhà trường. (Minh chứng 1: Hình ảnh buổi tiếp thu chuyên đề nuôi dưỡng tại trường MN Cam Thượng) Tôi học tập từ bạn bè đồng nghiệp thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn. Trong các buổi họp sinh hoạt chuyên môn, chúng tôi đưa nội dung xây dựng thực đơn cho trẻ để cùng nghiên cứu, làm sao xây dựng được nhiều món ăn mới, kết hợp các loại thực phẩm, lựa chọn những thực phẩm thay thế phù hợp, xây dựng thực đơn đảm bảo dinh dưỡng để áp dụng trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường. Chúng tôi đưa ra rất nhiều câu hỏi thảo luận như làm thế nào để có khẩu phần ăn đầy đủ dinh dưỡng? Làm sao để có một thực đơn đa dạng, phong phú? Làm sao sao để thực đơn hấp dẫn các bé? Sau đó tôi và các bạn đồng nghiệp tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi đó một cách hợp lý nhất. Thông qua những buổi họp này, tôi học được ở đồng nghiệp của mình những kinh nghiệm quý báu, những chia sẻ, những trao đổi của đồng nghiệp về cách xây dựng thực đơn. Tôi ghi chép tỉ mỉ, cẩn thận những nội dung quan trọng để tìm ra giải pháp phù hợp nhất khi xây dựng thực đơn cho trẻ. Bên cạnh đó, việc học tập phải đi đôi với thực hành; vì vậy tôi thường xuyên thực nghiệm nấu các món ăn mới học hỏi được cho các con và các cháu nhỏ trong gia đình tôi – những đứa trẻ ở độ tuổi mầm non để chúng thưởng thức Tôi theo dõi, đánh giá kết quả để biết chúng có thích thú với những món ăn mà tôi nấu hay không. Sau mỗi lần thử nghiệm đó, tôi rút ra được nhiều kinh nghiệm trong cách phối hợp các loại thực phẩm, cách xây dựng các món ăn mới đầy đủ dinh dưỡng, đạt về lượng, cân đối
  14. 14 về chất, để kích thích vị giác của trẻ, để trẻ hào hứng với những món ăn mà tôi nấu. Điều đó giúp tôi tự tin, vững vàng hơn trong quá trình làm việc. Kết quả: Thông qua quá trình tự học, tự nghiên cứu, tự bồi dưỡng chuyên môn, tôi đã xây dựng thực được đơn cân đối, đủ dinh dưỡng được áp dụng tại nhà trường, trẻ có những bữa ăn ngon đủ chất dinh dưỡng, đảm bảo cân đối và hợp lý. Qua quá trình học hỏi như vậy, bản thân tôi đã có nhiều kinh nghiệm, giúp tôi tự tin hơn trong công việc lên thực đơn, cân đối khẩu phần ăn hàng ngày của trẻ tại nhà trường. 2.2.2. Giải pháp 2: Xây dựng thực đơn, đảm bảo khẩu phần ăn cho trẻ. Xây dựng thực đơn đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển và đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ. Khi xây dựng thực đơn, tôi luôn chú trọng: Tính toán năng lượng, protein và các chất dinh dưỡng trong một khẩu phần ăn của trẻ. Tính lượng gạo và thực phẩm giàu đạm trong một khẩu phần ăn. Bổ sung thêm Vitamin và khoáng chất qua các loại rau củ và trái cây. Bổ sung thêm gia vị là các loại dầu ăn, đường, bột nêm Bản thân tôi hiểu rằng thực đơn được xây dựng theo từng ngày, tuần, tháng và theo mùa để điều hòa thực phẩm, kiểm soát dinh dưỡng. Xây dựng thực đơn cho nhiều ngày cần thay đổi món ăn để hấp dẫn trẻ và đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng. Khi thay đổi cần đảm bảo thay thế thực phẩm trong cùng một nhóm (ví dụ: thay thịt bằng cá, trứng hoặc tôm ) hoặc phối hợp các thực phẩm thay thế để đạt được giá trị dinh dưỡng tương đương. Thay đổi thực đơn trường mầm non không chỉ đơn thuần thay đổi thực phẩm mà cần thay đổi dạng chế biến trong cùng một loại thực phẩm (như, luộc, kho, xào, rán, hấp ) Trong cùng một bữa ăn nên sử dụng thực phẩm giống nhau cho các chế độ ăn để tiện cho việc cung cấp thực phẩm, nhưng các chế biến thức ăn cho từng độ tuổi khác nhau. Muốn lên thực đơn thật chuẩn xác, đảm bảo cân đối, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, bản thân tôi đã phải nghiên cứu thật kỹ Quyết định số 777/QĐ-BGDĐT ngày 14/3/2017(điều chỉnh lại điểm d khoản 2 điều 1 Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT) với nội dung: * Đối với trẻ nhà trẻ: - Xây dựng chế độ ăn, khẩu phần ăn phù hợp với độ tuổi: + Nhu cầu khuyến nghị năng lượng của 1 trẻ trong một ngày là: 930 - 1000 Kcal. + Nhu cầu khuyến nghị năng lượng tại trường của 1 trẻ trong một ngày chiếm 60 - 70% nhu cầu cả ngày: 600 - 651 Kcal.
  15. 15 - Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục mầm non: Hai bữa chính và một bữa phụ. + Năng lượng phân phối cho các bữa ăn: Bữa ăn buổi trưa cung cấp từ 30% đến 35% năng lượng cả ngày. Bữa ăn buổi chiều cung cấp từ 25% đến 30% năng lượng cả ngày. Bữa phụ cung cấp khoảng 5% đến 10% năng lượng cả ngày. + Tỉ lệ các chất cung cấp năng lượng được khuyến nghị theo cơ cấu: Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 13% - 20% năng lượng khẩu phần. Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 30% - 40% năng lượng khẩu phần Chất bột (Gluxit) cung cấp khoảng 47% - 50% năng lượng khẩu phần. - Nước uống: khoảng 0,8 lít – 1,6 lít/trẻ/ngày (kể cả nước trong thức ăn). - Xây dựng thực đơn hằng ngày, theo tuần, theo mùa. * Đối với trẻ mẫu giáo: - Xây dựng chế độ ăn, khẩu phần ăn phù hợp với độ tuổi: + Nhu cầu khuyến nghị năng lượng của 1 trẻ trong một ngày là: 1230 - 1320 Kcal. + Nhu cầu khuyến nghị năng lượng tại trường của 1 trẻ trong một ngày chiếm 50 - 55% nhu cầu cả ngày: 615 - 726 Kcal. - Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục mầm non: Một bữa chính và một bữa phụ. + Năng lượng phân phối cho các bữa ăn: Bữa chính buổi trưa cung cấp từ 30% đến 35% năng lượng cả ngày. Bữa phụ cung cấp từ 15% đến 25% năng lượng cả ngày. + Tỉ lệ các chất cung cấp năng lượng theo cơ cấu: Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 13% - 20% năng lượng khẩu phần. Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 25% - 35% năng lượng khẩu phần. Chất bột (Gluxit) cung cấp khoảng 52% - 60% năng lượng khẩu phần. - Nước uống: khoảng 1,6 - 2,0 lít/trẻ/ngày (kể cả nước trong thức ăn). - Xây dựng thực đơn hàng ngày, theo tuần, theo mùa. Xây dựng thực đơn hàng ngày, theo tuần, theo mùa để bé làm quen với nhiều món ăn mới lạ và để điều hòa thực đơn, để trẻ hứng thú khi ăn. Khi thay đổi thực đơn tôi đã lưu ý đến việc thay thế nguyên liệu trong cùng một nhóm. Khi xây dựng thực đơn cho trẻ, tôi luôn thực hiện theo nguyên tắc: Đảm bảo cho khẩu phần đáp ứng đủ về nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết. Đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa các chất sinh năng lượng. Cân đối tỷ lệ đạm động vật và thực vật, mỡ động vật và dầu thực vật, cân đối các loại vitamin và chất khoáng.
  16. 16 Xây dựng thực đơn theo mùa, phù hợp với sở thích của trẻ. Ví dụ vào mùa hè, cần ưu tiên các món nhiều nước, thanh mát, tăng cường các loại hoa quả ; vào mùa đông, có thể bổ sung các món chiên xào hoặc hầm nhừ. Các loại thực phẩm tiêu biểu của mùa nào nên ưu tiên sử dụng của mùa đó, không nên sử dụng thực phẩm trái mùa. Thức ăn nên được cắt nhỏ để trẻ dễ nhai, dễ tiêu hóa. Lựa chọn thực phẩm an toàn trước khi chế biến. Các loại thịt cá, rau củ phải đảm bảo tươi sống, không ôi thiu, không chứa các loại hóa chất gây hại cho sức khỏe của trẻ. Sau mỗi lần lên được thực đơn, tôi lại xin ý kiến từ đồng chí hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng. Áp dụng thực đơn đã lên tính khẩu phần ăn hàng ngày cho trẻ. Qua các bữa ăn tại trường tôi ghi chép, dõi những phản ứng từ trẻ về thực đơn tôi đưa ra. Xem trẻ có thích ăn những món ăn mới như trong thực đơn hay không, trẻ có tăng cân và phát triển cân đối hơn hay không. (Minh chứng 2: Thực đơn mùa đông, mùa hè năm học 2023 – 2024) Kết quả: Tôi đã biết phối hợp các loại thực phẩm để xây dựng thực đơn cho trẻ phong phú, ít bị trùng lặp món ăn, đảm bảo đủ chất dinh dưỡng cho trẻ, thường xuyên thay đổi, sáng tạo các món mới phù hợp với chế độ dinh dưỡng và sở thích của các bé nhờ đó các bé ăn ngon miệng hơn và ăn hết xuất. 2.2.3. Giải pháp 3: Sử dụng phần mềm xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn hàng ngày của trẻ. Hiện nay, chúng ta đang sống trong thời đại 4.0, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác chăm sóc nuôi dưỡng là một việc làm quan trọng mang tính khoa học, nhằm mục đích sử dụng phân phối hợp lý tiền ăn để giảm tối đa sự thừa, thiếu tiền ăn trong ngày của trẻ, giúp người phụ trách công tác chăm sóc nuôi dưỡng tính được lượng thực phẩm, tỷ lệ các chất dinh dưỡng cần và đủ để cung cấp cho trẻ trong các bữa ăn hàng ngày ở trường, xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn một cách khoa học, hiệu quả và tiết kiệm. Được sự quan tâm của nhà trường từ những năm học trước, nhà trường đã sử dụng phần mềm Gokids để tính khẩu phần ăn cho trẻ. Tôi đã được nhà trường cử đi tập huấn sử dụng phần mềm, vì vậy ngay từ đầu năm học, nhà trường giao cho tôi hàng ngày thực hiện cân đối khẩu phần ăn cho trẻ. Để làm tốt công việc này, tôi đã thực hiện như sau: Tôi thực hiện theo đúng sự chỉ đạo của ban giám hiệu, đặc biệt là Hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng. Khi tôi xây dựng, tính toán khẩu phần ăn của trẻ phải đúng với thực đơn đã được xây dựng và phê duyệt. Phù hợp với mức tiền ăn của trẻ, phù hợp với lượng Calo và tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần đúng theo quy định. Tôi thường xuyên xây dựng thực đơn, tạo món ăn trên phần mềm, cân đối định lượng các chất vào các đợt thay đổi thực đơn. Để tiến hành xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn trên phần mềm Gokids tôi đã thực hiện như sau:
  17. 17 Đăng nhập vào trang chủ của phẩn mềm, sau đó nhập tên đăng nhập, mật khẩu và mã bảo vệ, sau đó tiến hành 5 bước sau: Bước 1: Điền đầy đủ thông tin trong các mục như: “Nhà cung cấp”, “Thực phẩm trường”, “Nhập kho”. Bước 2: Thêm mới các món ăn của nhà trường, vào mục “Món ăn”. Thường là vào dịp hè, khi khối lượng công việc ít, tôi thường tranh thủ đưa ra các món ăn mới dự kiến cho năm học sau nên việc làm này với tôi không quá vất vả. Bước 3: Xây dựng thực đơn mẫu. Đây là việc làm rất quan trọng, mục này tôi có thể chọn thực đơn từ tham khảo thực đơn mẫu hoặc nhập mới. Để tạo thực đơn mới tôi nhấn vào nút “Thêm mới”, sau đó điền đầy đủ các thông tin bữa trưa, bữa chiều, số tiền ăn của trẻ cũng như số trẻ trung bình cộng trong tháng để tránh phải thêm bớt, sửa đổi nhiều. Sau khi nhập đủ các thông tin, tôi tiến hành nhập lượng thực phẩm sao cho cân đối định lượng bữa sáng, chiều và tỉ lệ các chất. Bước 4: Cân đối khẩu phần: Để cân đối khẩu phần tôi chọn mục “Cân đối khẩu phần”. Bước này, tôi thường thực hiện từ ngày hôm trước lấy số trẻ dự tính dựa trên số trẻ của ngày hôm đó. Sau đó tôi tiến hành cân đối khẩu phần. Trong quá trình cân đối khẩu phần trên phần mềm tôi luôn thực hiện đúng việc xây dựng chế độ ăn, khẩu phần ăn phù hợp với từng độ tuổi. Đảm bảo nhu cầu khuyến nghị năng lượng tại trường của một trẻ trong một ngày. Trẻ nhà trẻ: 600 – 661 Kcal, trẻ mẫu giáo: 1230 – 1320 Kcal. Đảm bảo năng lượng phân phối cho các bữa ăn: Đối với trẻ nhà trẻ: Bữa chính buổi trưa cung cấp từ 30% đến 35% năng lượng cả ngày. Bữa chính buổi chiều cung cấp từ 25% đến 30% năng lượng cả ngày. Bữa phụ chiều cung cấp khoảng 5% đến 10% năng lượng cả ngày. Đối với trẻ mẫu giáo: Bữa chính buổi trưa cung cấp từ 30% đến 35% năng lượng cả ngày. Bữa phụ chiều cung cấp từ 15% đến 25% năng lượng cả ngày. Tôi cân đối làm sao cho tỉ lệ các chất cung cấp năng lượng đạt theo khuyến nghị cụ thể theo từng lứa tuổi: Chất đạm (Protit): Đối với trẻ nhà trẻ, cung cấp khoảng 13% - 20% năng lượng khẩu phần. Đối với trẻ mẫu giáo cung cấp khoảng 13% - 20% năng lượng khẩu phần. Chất béo (Lipit): Đối với trẻ nhà trẻ cung cấp khoảng 30% - 40% năng lượng khẩu phần. Đối với trẻ mẫu giáo cung cấp khoảng 25% - 35% năng lượng khẩu phần. Chất bột (Gluxit): Đối với trẻ nhà trẻ: cung cấp khoảng 47% - 50% năng lượng khẩu phần. Đối với trẻ mẫu giáo cung cấp khoảng 52% - 60% năng lượng khẩu phần. Tôi tranh thủ lúc công việc không gấp gáp có thể làm luôn cho cả tuần đúng như bảng thực đơn mà tôi xây dựng lên, đã được Ban giám hiệu duyệt.
  18. 18 Bước 5: Xuất biểu mẫu thống kê. Tôi chọn vào mục “Phiếu kê chợ”, xuất phiếu kê chợ gửi nhà cung cấp, gọi thực phẩm cho ngày hôm sau. Việc này vừa đảm bảo tính chính xác, lại tiết kiệm thời gian và công sức. Hôm sau, khi các lớp báo ăn trên phần mềm, tôi chốt số trẻ ăn, bắt đầu tính khẩu phần ăn của trẻ. Tôi cân đối lại lượng thực phẩm thừa thiếu theo số lượng trẻ thực tế ăn ngày hôm đó. Và cuối cùng là xuất “Sổ tính tiền ăn”. Đây là công đoạn cuối cùng hoàn tất việc tính khẩu phẩn ăn. Ta chỉ cần chọn ngày, rồi ấn nút xem, chọn “Sổ tính khẩu phần ăn của trẻ”. Vì thực đơn đã được cân đối từ ngày hôm trước nên việc tính khẩu phần ăn hàng ngày được thực hiện nhanh chóng, đảm bảo thời gian, tính chính xác và hợp lý, đúng quy định. (Minh chứng 3: Hình ảnh các bước xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn trên phần mềm) Kết quả: Tôi đã sử dụng thành thạo phần mềm tính khẩu phần ăn cho trẻ, giúp tiết kiệm thời gian trong quá trình tính toán, xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn của trẻ. Chất lượng bữa ăn hàng ngày của trẻ luôn được đảm bảo. Trẻ ở trường được ăn theo những thực đơn cân đối, hợp lý, giúp trẻ phát triển toàn diện, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, trẻ thừa cân trong nhà trường. 2.2.4. Giải pháp 4: Lựa chọn đa dạng, phối hợp các loại thực phẩm để có nhiều món ăn ngon, đủ chất dinh dưỡng cho trẻ. Như chúng ta đã biết, không có một loại thức ăn nào là toàn diện và có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể của trẻ. Mỗi loại thức ăn có chứa một số chất dinh dưỡng với tỷ lệ khác nhau. Chính vì vậy, bữa ăn hàng ngày của trẻ cần đa dạng, phối hợp nhiều loại thực phẩm (tốt nhất là có trên 10 loại thực phẩm), khi đó các chất dinh dưỡng sẽ bổ sung từ các loại thức ăn khác nhau, giúp cho giá trị sử dụng của thức ăn sẽ tăng lên. Bữa ăn có thành phần dinh dưỡng hợp lý là bữa ăn có đủ từ 4 nhóm thực phẩm cung cấp các chất dinh dưỡng và ở tỷ lệ thích hợp. Bốn nhóm thực phẩm chính bao gồm: Nhóm chất bột đường; Nhóm chất đạm; Nhóm chất béo; Nhóm vitamin và khoáng chất. Mỗi nhóm thức ăn trên không chỉ có một chất mà thường đồng thời cung cấp nhiều chất dinh dưỡng khác nhau. Ba nhóm thực phẩm cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động sống của con người gồm chất bột đường, đạm, chất béo. Nhóm thứ 4 – nhóm Vitamin và khoáng chất không cung cấp năng lượng nhưng vô cùng quan trọng, khi thiếu sẽ gây những hậu quả xấu cho sức khỏe của trẻ. Thực tế mỗi loại thực phẩm trong tự nhiên thường chứa nhiều chất dinh dưỡng, nhưng với tỷ lệ khác nhau. Việc chọn lựa và phối hợp thực phẩm một cách khoa học giúp cung cấp đầy đủ nhất các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, không bị dư hoặc thiếu hụt. Do đó, hàng ngày trẻ cần ăn những món ăn đa dạng, kết hợp nhiều loại thực phẩm trong 4 nhóm kể trên để có thêm nhiều chất dinh dưỡng và chất nọ bổ sung chất kia, trẻ sẽ có một bữa ăn cân đối, đủ chất. Việc kết hợp các nhóm thực phẩm tôi thực hiện như sau:
  19. 19 Phối hợp các loại ngũ cốc khác nhau: Nhóm chất bột đường gồm ngũ cốc là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể hoạt động. Trong nhóm ngũ cốc thì gạo là lương thực phổ biến được sử dụng nhiều nhất. Tôi đã tham mưu với ban giám hiệu và hiệu phó nuôi dưỡng lựa chọn gạo không xay xát quá kỹ cho bữa ăn hàng ngày của trẻ. Ngoài ra, tôi thay đổi các loại ngũ cốc khác nhau để chế biến thành các món ăn vào bữa phụ chiều của trẻ như mì sợi, gạo nếp cẩm, bột mì . để làm đa dạng bữa ăn và các chất dinh dưỡng, tăng cường lợi ích cho sức khỏe của trẻ. Phối hợp thức ăn nguồn đạm động vật và thực vật: Nên ăn cá, tôm, cua và đậu, đỗ. Nhóm chất đạm gồm thịt, cá, hải sản, trứng, sữa, đậu, đỗ, lạc cung cấp các acid amin, trong đó có 9 acid amin thiết yếu mà cơ thể không tự tổng hợp được mà phải lấy từ thực phẩm. Trong khẩu phần ăn nên có tỷ lệ thích hợp đạm động vật và đạm thực vật tùy theo độ tuổi như đối với trẻ dưới 1 tuổi là tỷ lệ đạm động vật/tổng số đạm là 70%, trẻ 1-5 tuổi là 60% và trẻ 6-9 tuổi là 50%, trẻ 12-19 tuổi là 35%. Trong quá trình xây dựng thực đơn, tôi luôn bổ sung mỗi tuần một bữa cá hoặc tôm biển vào bữa chính trưa của trẻ. Không chỉ lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc đạm động vật mà tôi còn lựa chọn thêm thực phẩm có nguồn gốc đạm thực vật như đậu phụ để chế biến thành món thịt đậu 3 màu hay thịt đậu sốt cà chua. Ngoài ra, mỗi tuần thực đơn tôi xây dựng đều được bổ sung các món ăn từ trứng gà, trứng cút như món trứng thịt đảo bông, hay trứng cút kho thịt. Các món ăn trên đều có sự kết hợp với thịt lợn để cân bằng các chất. Với món canh bí đỏ hay món cháo, món xôi tôi bổ sung thêm đậu xanh. Hoặc kết hợp món cháo thịt lợn bí đỏ với lạc, vừng. Trẻ cần được ăn phối hợp dầu thực vật và mỡ động vật hợp lý: Nhóm chất béo (mỡ động vật và dầu thực vật) giúp cơ thể hoạt động và tăng trưởng, cung cấp năng lượng, hỗ trợ hấp thu các vitamin tan trong dầu, mỡ như vitamin A, D, E, K. Chất béo tham gia trong cấu trúc tế bào của một số tổ chức, đặc biệt là não, màng tế bào, màng nhân và các nội quan trong tế bào. Cần phối hợp mỡ động vật và dầu thực vật hợp lý để có tỷ lệ acid béo bão hòa chiếm 10% năng lượng khẩu phần và 10-15% năng lượng khẩu phần do acid béo chưa bão hòa. Nhu cầu chất béo của trẻ: Trong sữa mẹ chất béo chiếm trên 50% tổng các dưỡng chất sinh năng lượng. Trẻ nhỏ dưới 5 tuổi chất béo chiếm khoảng 40% tổng năng lượng khẩu phần (3- 4 g/kg cân nặng). Trẻ trên 5 tuổi chất béo chiếm 30% tổng năng lượng khẩu phần. Cung cấp năng lượng ở dạng đậm đặc nhất, một gam chất béo có 9 kcal năng lượng. Khi xây dựng thực đơn, cân đối khẩu phần ăn cho trẻ, tôi đều kết hợp tính toán lượng dầu ăn cần thiết cũng như lượng thực phẩm có chứa mỡ động vật như thịt lợn, cá, thịt gà, ngan đồng thời bổ sung thêm lạc, vừng vào các bữa phụ chiều của trẻ như món xôi thịt đậu xanh, lạc vừng, món cháo bí đỏ lạc vừng hay món chè hoa cau hạt sen kết hợp với vừng, để cân đối lượng mỡ động vật và dầu thực vật trong thực đơn của trẻ.
  20. 20 Tôi phối hợp các loại rau, quả trong thực đơn của trẻ: Trong rau, quả chứa các biolanoid có vai trò chống oxy hóa, làm giảm nguy cơ đối với bệnh tim mạch và ung thư. Các loại quả có ưu điểm là có nhiều chất dinh dưỡng và vitamin và không bị hao hụt do không cần phải chế biến. Cần phối hợp các loại rau, quả khác nhau để có đủ các vitamin, khoáng chất, các chất chống oxy hóa, các chất xơ cần thiết cho cơ thể. Vì thế bữa ăn cho trẻ nên sử dụng rau, ăn ngay sau khi nấu xong là cách tốt nhất để bảo toàn lượng vitamin C trong rau. Rau và quả chín còn là nguồn cung cấp chất xơ quý, có tác dụng chống táo bón và phòng xơ vữa động mạch. Ví dụ như với bữa phụ chiều của trẻ, ngoài các món ăn do các cô nuôi chế biến ra, tôi còn bổ sung thêm quả chín như đu đủ, chuối tiêu để cung cấp thêm vitamin, khoáng chất cho trẻ. Hay với bữa chính trưa của trẻ mẫu giáo: với món mặn là thịt gà nấu cà ri, canh rau cải nấu thịt, tôi sẽ bổ sung thêm món su hào, cà rốt xào hay su su cà rốt xào. Với thực đơn có món mặn là cá sốt ngũ liễu, canh bí đỏ nấu thịt, Tôi lại kết hợp bổ sung thêm món rau giá xào hay bắp cải xào. Tôi bổ sung mỗi tuần thêm hai bữa rau củ xào cho trẻ mẫu giáo. Thực tế khi áp dụng, trẻ rất thích ăn các món rau xào. (Minh chứng 4: Hình ảnh bữa ăn của trẻ kết hợp đa dạng các loại thực phẩm) Kết quả: Thực đơn hàng ngày của trẻ tôi đều tính toán rất tỉ mỉ và cẩn thận để kết hợp một cách phù hợp, có hiệu quả các loại thực phẩm với nhau. Từ cách thay đổi và phối hợp như vậy, tôi nhận thấy trẻ ăn rất ngon miệng, ăn hết xuất, và còn rất hào hứng với những món ăn mà cô nuôi chế biến ra. Đặc biệt là món ăn mặn kết hợp nhiều loại củ quả hầm, hay món rau xào và quả chín. 2.2.5. Giải pháp 5: Xây dựng mô hình vườn rau sạch, đa dạng, đúng mùa vụ nhằm ổn định nguồn thực phẩm cho bữa ăn của trẻ. Tổ chức y tế thế giới WHO đã khẳng định “Có được thực phẩm an toàn sẽ cải thiện được sức khỏe con người và là quyền cơ bản của con người” Thực tế nhà trường đã kí hợp đồng với các nhà cung ứng thực phẩm với những điều khoản chặt chẽ. Tuy nhiên các nhà cung cấp thực phẩm cho trường đều là những hộ kinh doanh nhỏ, lẻ. Các mặt hàng họ cung cấp đặc biệt các loại rau họ phải mua từ dân và từ các chợ không phải tự sản xuất ra, khó tránh khỏi việc mua phải các loại rau sử dụng phân bón hóa học, các loại hóa chất mà chưa hết thời gian phân hủy đã thu hoạch. Những loại rau này trẻ ăn vào không gây ngộ độc thực ngay mà tồn đọng trong cơ thể trẻ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe trẻ sau này. Thực phẩm sạch tươi ngon, giàu dinh dưỡng là một yếu tố quan trọng để tạo nên bữa ăn ngon, an toàn, đầy đủ dưỡng chất cho trẻ, vừa đảm bảo an toàn thực phẩm cho trẻ vừa làm phong phú thực đơn cho trẻ hàng ngày. Nhận thức được tầm quan trọng của thực phẩm sạch đối với sức khỏe con người, tôi đã tham mưu cùng ban giám hiệu nhà trường tạo ra nguồn thực phẩm sạch tại chỗ bằng cách cải tạo khu đất trống trong khuân viên trường thành vườn rau nhỏ. Ban giám hiệu phối hợp với các đoàn thể trong trường như: Đoàn thanh niên, Công Đoàn thực hiện lao đông công ích, cải tạo khu đất trống thành vườn rau nhỏ với mục đích vừa là nơi thực hành trải nghiệm cho