SKKN Biện pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên trong công tác phối hợp với phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà

pdf 22 trang Anh Túc 19/09/2026 40
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Biện pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên trong công tác phối hợp với phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_bien_phap_nang_cao_hieu_qua_ung_dung_cong_nghe_thong_ti.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Biện pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên trong công tác phối hợp với phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà

  1. MỤC LỤC PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ ...................................................................................... 2 1. Lý do chọn đề tài. ........................................................................................... 2 2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3 3. Đối tượng nghiên cứu: ................................................................................... 3 4. Đối tượng khảo sát: ........................................................................................ 3 5. Phương pháp nghiên cứu: .............................................................................. 3 6. Phạm vi, thời gian nghiên cứu: ...................................... 4 7. Số liệu điều tra trước khi thực hiện: ..4 PHẦN II: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. .... 5 1. Một số nội dung lý luận liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu: ............ 5 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu: ...................................................................... 5 3. Tên sáng kiến kinh nghiệm: ........................................................................... 6 4. Các biện pháp thực hiện: ................................................................................ 6 5. Cách thức thực hiện từng biện pháp: 7 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ : ............................................. 15 1. Kết quả có so sánh đối chứng: 15 2. Kết luận: ....................................................................................................... 16 3. Những khuyến nghị và đề xuất .................... Error! Bookmark not defined. 4. Ảnh minh chứng cho các giải pháp: 18 5. Bảng minh chứng số liệu khảo sát: .19
  2. 2 Tên SKKN: Biện pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên trong công tác phối hợp với phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: a. Lý do về mặt lý luận. Đại hội Đảng lần thứ XII đề ra phương hướng: Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển GD&ĐT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng đầu tiên của ngành Giáo dục đào tạo. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục ở các bậc học tiếp theo, xác định được mục tiêu giáo dục mầm non quan trọng như vậy nên việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên lại càng quan trọng hơn, quyết định hơn, làm đòn bẩy để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Năm học 2021- 2022 dịch bệnh Covid-19 đã bùng phát trên đất nước ta, nó ảnh hưởng tới mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam nói chung và ảnh hưởng tới lĩnh vực giáo dục nói riêng trong đó có giáo dục mầm non; Dịch Covid-19 đã ngăn cách con đường tới trường của các con. Vì vậy cần nâng cao chất lượng ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên để giúp giáo viên làm tốt công tác nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ trong tình hình dịch bệnh. Tại văn bản số 3676/BGDĐT-GDMN ngày 26 tháng 08 năm 2021 của bộ giáo dục và đào tạo về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2021- 2022 có viết “ Trong thời gian trẻ nghỉ dịch các nhà trường mầm non cần tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn phụ huynh thực hiện chế độ dinh dưỡng khoa học hợp lý và tổ chức cho trẻ em hoạt động vui chơi tại nhà; Hình thành các nhóm qua mạng giữa giáo viên và phụ huynh để chia sẻ, tư vấn việc nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ. Giáo viên lựa chọn và hướng dẫn phụ huynh tổ chức những hoạt động giáo dục phù hợp với điều kiện chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà để hướng tới đạt được mục tiêu, kết quả mong đợi cuối độ tuổi theo Chương trình giáo dục mầm non; Các nội dung hình thức hoạt động cho trẻ cần đảm bảo an toàn và đáp ứng yêu cầu về giáo dục ” b. Lý do về mặt thực tiễn. Là một cán bộ quản lý được phân công phụ trách công tác chuyên môn trong nhà trường và đặc biệt nhiều năm phụ trách công tác quản lý lĩnh vực công nghệ thông tin trong nhà trường, đến nay trường tôi cũng đang dần chuyển mới tích cực hơn trong công tác công nghệ thông tin nhưng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tôi vẫn nhận thấy một số hạn chế của đội ngũ giáo viên trường tôi về ứng dụng công
  3. 3 nghệ thông tin như: Một số giáo viên chưa thành thạo phần mềm soạn giảng Powerpoit, chưa biết thiết kế nhiều trò chơi trên phần mềm. Một số giáo viên khi sử dụng các ứng dụng zoom hay google meet để kết nối trực tiếp với trẻ hay tham gia các cuộc họp còn lúng túng; Kĩ thuật quay video của giáo viên còn hạn chế; Khả năng cắt ghép ảnh hay sử dụng các phần mềm làm truyện tranh, tổ chức trò chơi cho trẻ còn hạnh chế; Một số giáo viên còn chưa có tinh thần cầu cầu tiến, lười suy nghĩ, tìm hiểu. Giáo viên chưa có nhiều thành tích cao khi tham gia hội thi công nghệ thông tin cấp trường hoặc cấp huyện. Từ lý do trên tôi thiết nghĩ, công tác bồi dưỡng công nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên trong trường mầm non là nhiệm vụ trọng tâm hết sức cần thiết của toàn ngành giáo dục nói chung và trường mầm non tôi đang công tác nói riêng đặc biệt là trong tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, các con vẫn phải nghỉ dịch tại nhà. Nếu làm tốt công tác này sẽ giúp giáo viên tự tin thiết kế ra những video, những nội dung tuyên truyền phối hợp với phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà. Đồng thời giúp giáo viên có kĩ năng công nghệ thông tin ngày càng tốt hơn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngành giáo dục đặt ra hiện nay. Với mong mong muốn đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên trong công tác phối hợp phụ huynh chăm sóc, giáo dục trẻ tại nhà " làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của bản thân trong năm học 2021– 2022. 2. Mục đích nghiên cứu: Nhằm đưa ra một số biện pháp sáng tạo hơn góp phần nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong việc phối hợp với phụ huynh chăm sóc, giáo dục trẻ tại nhà trong thời gian trẻ nghỉ dịch, nếu thành công có thể nhân rộng ra nhiều trường mầm non khác khi có cơ hội. 3. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên trong công tác phối hợp với phụ huynh chăm sóc, giáo dục trẻ tại nhà; 4. Đối tượng khảo sát: 27 đồng chí giáo viên – trường mầm non Châu Sơn – Ba Vì – Hà Nội 5. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp khảo sát Phương pháp nêu gương Phương pháp trò chuyện, trao đổi thông tin.
  4. 4 Phương pháp quan sát, nghiên cứu Phương pháp kiểm tra, đánh giá Phương pháp động viên, khuyến khích. 6. Phạm vi, kế hoạch nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu: 27 giáo viên– Trường mầm non Châu Sơn – Ba Vì – Hà Nội Kế hoạch thực hiện đề tài là 9 tháng: Tôi nghiên cứu từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 4 năm 2022 và thực hiện những năm tiếp theo nếu dịch bệnh vẫn kéo dài 7. Số liệu điều tra trước khi thực hiện: Từ những yêu cầu cần và đủ trong đề tài sáng kiến, tôi đã thực hiện khảo sát ở một số nội dung sau: Mức Đạt Chưa đạt Nội dung khảo sát Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ Giáo viên có kỹ năng sử dụng thành thạo ứng dụng zoom và 10 37 17 63 google meet Kỹ năng quay video của giáo 14 51 13 49 viên Kỹ năng sử dụng một số phần mềm làm video: Camtasia, 6 22 21 78 Canva, Capcut để thiết kế video Giáo viên có khả năng sử dụng một số ứng dụng để 8 29.6 19 70.4 thiết kế trò chơi ôn tập, củng cố cho trẻ Kỹ năng khai thác tư liệu trên 8 29.6 19 70.4 không gian mạng và trong
  5. 5 kho học liệu dùng chung nhà trường Bảng 1: Bảng khảo sát kỹ năng công nghệ thông tin giáo viên đầu năm PHẦN II: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 1. Một số nội dung lý luận liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu: Công văn số 3058/SGDĐT-GDMN ngày 31/08/2021 của sở giáo dục và đào tạo Hà Nội về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2021- 2022; Công văn số 3066/SGDĐT- GDMN ngày 31/08/2021 về việc hướng dẫn thực hiện quy chế chuyên môn giáo dục mầm non năm học 2021- 2022; Kế hoạch số 921/KH-PGD&ĐT-MN ngày 01/09/2021 của Phòng giáo dục và Đào tạo huyện Ba Vì về kế hoạch tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học 2021-2022 cấp học mầm non huyện Ba Vì; Công văn số 922/ PGDĐT-MN ngày 01 tháng 9 năm 2021 của phòng giáo dục Ba Vì về hướng dẫn thực hiện quy chế chuyên môn cấp học mầm non; Kế hoạch số 1032/KH-PGDĐT ngày 30 tháng 09 năm 2021 của Phòng giáo dục và đào tạo huyện Ba Vì về kế hoạch thực hiện nhiệm vụ ứng dụng công nghệ thông tin năm học 2021- 2022; Kế hoạch số 79/KH-MNCS ngày 05 tháng 09 năm 2021 của trường mầm non Châu Sơn về kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2021- 2022 Công văn số 86/BDCB-GDMN ngày 24 tháng 9 năm 2021 về việc mở lớp tập huấn ứng dụng một số phần mềm tin học miễn phí, thiết kế phim hoạt hình truyện tranh cho trẻ mầm non; Công văn số 83/BDCB-GDTX ngày 24 tháng 9 năm 2021 về việc tổ chức tập huấn cho giáo viên kĩ năng khai thác ứng dụng truyền thông nhành giáo dục đào tạo trong công tác truyền thông tương tác với cha mẹ học sinh; Kế hoạch số 82 /KH-MNCS ngày 8 tháng 9 năm 2021 của trường mầm non Châu Sơn triển khai chuyên đề bồi dưỡng giáo viên sử dụng phần mềm ứng dụng Zoom, google Meet; Kế hoạch số 102/KH-MNCS ngày 15 tháng 10 năm 2021 của trường mầm non Châu Sơn triển khai chuyên đề bồi dưỡng giáo viên thiết kế bài giảng Powerpoit và thiết kế trò chơi trên Powerpoit;
  6. 6 Kế hoạch số 115 /KH-MNCS ngày 23 tháng 11 năm 2021 của trường mầm non Châu Sơn triển khai chuyên đề bồi dưỡng giáo sử dụng phần mềm thiết kế video Camtasia8; Kế hoạch số 128 /KH-MNCS ngày 08 tháng 12 năm 2021 của trường mầm non Châu Sơn triển khai chuyên đề hướng dẫn giáo viên thiết kế trò chơi cho trẻ trên google form, quizzi, Liver Work sheet; 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu: Trường mầm non nơi tôi công tác là một trường nhỏ, số lượng học sinh và giáo viên ít hơn so với các trường bạn. Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi gặp một số thuận lợi và khó khăn sau: * Thuận lợi: Trường có 1 điểm trường duy nhất nên thuận lợi cho công tác giao lưu, trao đổi thông tin và các công tác khác của toàn trường. Có đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đủ về số lượng, trẻ, khỏe, yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình, đoàn kết luôn giúp đỡ nhau. Về trình độ: 23/27 giáo viên có trình độ trên chuẩn; 100% giáo viên đều có chứng chỉ tin học văn phòng. Hàng năm giáo viên được tham gia vào các chuyên đề do phòng tổ chức, Tổ chuyên môn thực hiện sinh hoạt định kỳ 2 lần/ tháng theo đúng quy định. Giáo viên được trao đổi thông tin, cùng nhau thảo luận đi đến thống nhất các nội dung, các bước xây dựng video phù hợp điều kiện thực tế tại trường/ lớp. Trẻ nghỉ dịch, giáo viên có nhiều thời gian để nghiên cứu, thực hành các ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng các nội dung phối hợp phụ huynh chăm sóc, giáo dục trẻ 100% các bậc phụ huynh đều có thiết bị thông minh để phối hợp giáo viên 100% giáo viên có máy tính cá nhân có điện thoại thông minh, được kết nối mạng Internet Bên cạnh những thuận lợi, tôi còn gặp một số khó khăn sau: * Khó khăn: Năng lực của giáo viên chưa đồng đều, một số giáo viên sử dụng các phần mềm ứng dụng còn lúng túng, chưa hiệu quả, kĩ năng công nghệ thông tin còn hạn chế; Nhiều giáo viên còn rụt rè khi quay..
  7. 7 Một số giáo viên có năng lực, kĩ năng công nghệ thông tin tốt nhưng lười tư duy, ý thức cầu tiến không cao nên chất lượng video hay nội dung các bài truyền thông chưa thu hút được trẻ và phụ huynh. Một số giáo viên chưa giành nhiều thời gian để nghiên cứu tài liệu, khai thác các phần mềm đã được học nên việc áp dụng các nội dung bồi dưỡng dập khuân, chưa linh hoạt, Một số phụ huynh có có bố mẹ đi làm xa, để con ở nhà với ông bà nên việc tiếp cận công nghệ thông tin hạn chế; Một số phụ huynh chưa sử dụng thành thạo ứng dụng zalo, facebook.. Từ thực trạng trên, tôi lựa chọn đề tài sáng kiến sau: 3. Tên SKKN: Biện pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên trong công tác phối hợp phụ huynh chăm sóc, giáo dục trẻ tại nhà 4. Tên các biện pháp thực hiện trong đề tài: 4.1. Chỉ đạo các nhóm lớp thành lập các nhóm Zalo, facebook, trang fanpage để phối hợp với phụ huynh chăm sóc, giáo dục trẻ tại nhà 4.2. Nghiên cứu, định hướng các phần mềm ứng dụng phù hợp với điều kiện thực tế trường lớp và khả năng của giáo viên 4.3. Triển khai các chuyên đề ứng dụng CNTT cho toàn thể cán bộ, giáo viên tham gia. 4.4. Chỉ đạo giáo viên các nhóm lớp khai thác kho học liệu của sở, của phòng và của nhà trường để lựa chọn các nội dung phối hợp phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà 4.5. Tạo sự thi đua giữa các lớp, giữa các cá nhân; 4.6. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát 5. Các biện pháp cụ thể 5.1. Chỉ đạo các nhóm lớp thành lập các nhóm Zalo, facebook, trang fanpage để phối hợp với phụ huynh chăm sóc, giáo dục trẻ tại nhà Khi hàng ngày các con được đến trường việc tuyên truyền với phụ huynh về chăm sóc giáo dục trẻ thường tiến hành một cách trực tiếp thông qua giờ đón- trả trẻ hoặc gián tiếp bằng cách sử dụng bản giấy in treo tại bảng tin nhà trường và một phần gửi qua zalo nhóm lớp. Năm học 2021- 2022 do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 các con phải nghỉ học ở nhà để tránh dịch. Tuy nghỉ dịch nhưng không thể
  8. 8 để các con nghỉ luôn học và đặc biệt hiện nay thời đại CNTT 4.0 phát triển. Mỗi gia đình đều có những chiếc điện thoại thông minh hay máy tính vì vậy đây cũng là điều kiện thuận lợi để nhà trường kết nối với phụ huynh thông qua những thiết bị thông minh. Tôi đã chỉ đạo các nhóm lớp phối hợp với phụ huynh làm những công việc sau: Chỉ đạo giáo viên lấy số điện thoại của toàn thể phụ huynh trong lớp mình phụ trách; Lưu ý số điện thoại mà phụ huynh cung cấp gắn với những thiết bị thông minh gia đình đang sử dụng. Khi có đầy đủ số điện thoại của phụ huynh Tôi chỉ đạo giáo viên khai thác các tiện ích từ zalo, Facebook như: Thành lập các nhóm zalo, gửi đường link mời các bậc phụ huynh vào nhóm lớp. Ngoài ra giáo viên lập nhóm facebook, messenger và trang fanpage của lớp mời các bậc phụ huynh vào nhóm; Đối với giáo viên chưa sử dụng thành thạo các tính năng của 2 công cụ này Tôi phân công tổ công nghệ thông tin nhà trường hướng dẫn trực tiếp giáo viên các bước lập nhóm, cách gửi đường link mời phụ huynh, cách thêm phụ huynh vào nhóm .Khi 100% các lớp đã lập được nhóm Tôi yêu cầu giáo viên các nhóm lớp xây dựng các nội dung hoạt động của nhóm phù hợp với tình hình thực tế.. Tại buổi họp phụ huynh đầu năm giáo viên triển khai tới phụ huynh, lấy ý kiến phụ huynh về các nội quy nhóm lớp; Nếu phụ huynh đồng tình, nhất trí nhóm đi vào hoạt động; Đối với gia đình có bố mẹ đi làm vắng các con ở nhà với ông bà chúng tôi mời bố mẹ tham gia nhóm sau đó tuyên truyền bố mẹ các con về hướng dẫn ông bà sử dụng hoặc cử giáo viên ở gần nhà phụ huynh đó đến hướng dẫn sử dụng; Kết quả: Năm học 2021- 2022 100% các nhóm lớp đều có nhóm Zalo, trang fanpage riêng; Thông qua những nhóm này giáo viên hướng dẫn phụ huynh chăm sóc, giáo dục trẻ các con tại nhà phù hợp với điều kiện địa phương, đáp ứng kỳ vọng chương trình giáo dục mầm non phù hợp điều kiện thực tế nhóm lớp. Phụ huynh sử dụng thành thạo các tính năng của zalo, trang fanpage của lớp. Học sinh thích thú hợp tác cùng các cô trên các nhóm zalo của lớp. 5.2. Nghiên cứu, định hướng cho giáo viên các phần mềm ứng dụng phù hợp với điều kiện thực tế trường lớp và khả năng của giáo viên Trong quá trình làm công tác quản lý Tôi được phân công phụ trách công tác công nghệ thông tin của nhà trường. Trong quá trình công tác Tôi nhận thấy kĩ năng công nghệ thông tin của phần lớn giáo viên trường Tôi vẫn còn hạn chế; Nhiều giáo viên chưa sử dụng thành thạo phần mềm Powerpoint, chưa thiết kế được nhiều trò chơi cho trẻ trên phần mềm; Kĩ năng quay video chưa đúng trọng tâm, cắt ghép ảnh, video chưa thẩm mỹ, một số khi sử dụng phần mềm zoom để tương tác với trẻ còn lúng túng. Sử dụng các công cụ quản lý lớp học như Zalo, face book chưa hiệu quả,
  9. 9 phụ huynh tương tác chưa nhiều; Để khắc phục những hạn chế đó là người phụ trách công nghệ thông tin nhà trường Tôi đã nghiên cứu kỹ một số ứng dụng, phần mềm và lựa chọn những phần mềm, những ứng dụng phù hợp với thực tế. Tôi đã làm như sau: Đối với những công cụ quản lý lớp như Zalo, Facebook, Mesenger là những công cụ thân thuộc mọi người, giao tiếp dễ dàng, giúp giáo viên tương tác phụ huynh thuận lợi. Ví dụ: Chức năng nhắc hẹn; Nhắc các con đến giờ này phải gửi Video trả bài cô . Làm thế nào để có sự tham gia nhiệt tình của phụ huynh và sử dụng có hiệu quả? Tôi đã nghiên cứu và định hướng cho giáo viên làm những việc như sau: Thứ nhất, Tôi chỉ đạo giáo viên tạo cho phụ huynh có cảm giác mình là chủ thể chính trong quá trình giao tiếp. Chỉ đạo giáo viên thường xuyên tạo ra những bình chọn qua Zalo, facebook Ví dụ: Tôi cho giáo viên tạo bình chọn về thời gian phù hợp để giáo viên tổ chức tương tác trực tiếp với trẻ hay tạo bình chọn về những nội quy nhóm Zalo, Tạo bình chọn về phụ huynh có cho con đi học sau thời gian nghỉ dịch .Thay vì cô tạo ra những lịch cố định cô tạo ra bình chọn để phụ huynh tham gia phụ huynh có cảm giác thông tin của mình quan trọng vì vậy phụ huynh tương tác nhiều từ đó tạo thói quen phụ huynh tham gia ngày càng đông; Thứ hai, Phụ huynh có tâm lý đám đông khi không có nhiều người vào tương tác ngại có ý kiến, khi thấy nhiều phụ huynh vào tương tác mình cũng sẽ tương tác nhiều hơn vì vậy Tôi trao đổi giáo viên chủ động trao đổi với phụ huynh tích cực tham gia nhiệt tình các hoạt động; Ví dụ: Khi cô tổ chức cuộc thi tại nhóm lớp bố mẹ giành thời gian chơi với con, quay clip; Thực tế không phải nhiều phụ huynh làm được như vậy nhưng khi bố mẹ thấy các bạn của con có video được thả tim, được like thì mong muốn con mình như vậy vì vậy tích cực tham gia cùng con. Thứ ba, Người lớn cũng giống trẻ nhỏ cũng thích tham gia hoạt động vui chơi. Tôi tham mưu với Ban giám hiệu và giáo viên các lớp tổ chức các cuộc thi nhỏ có sự tham gia của bố, mẹ con. Tiêu chí đưa ra là mức độ vui nhộn, Số lượng người tham gia, số lượng like, thả tim phần thưởng là những giấy chứng nhận như gia đình tích cực trong tháng, Bố mẹ và con đáng yêu nhất trong tháng phụ huynh cũng tham gia rất nhiều. Qua quá trình nghiên cứu Tôi nhận thấy sụ thành công trong việc dạy trẻ tại nhà nó phụ thuộc vào sự tham gia rất nhiều của cha mẹ trẻ. Trong quá trình nghiên cứu Tôi đã lựa chọn Zalo, Facebook group là công cụ quản lý lớp học và là công cụ để giáo viên và phụ huynh trao đổi thông tin.
  10. 10 Để phục vụ việc tổ chức lớp học trực tuyến, họp phụ huynh, tham gia bồi dưỡng Tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu sâu vào 2 phần mềm có khả năng ưng dụng cao và dễ sử dụng đó là Zoom Meetting và google Meet. Đối với Zoom meeting có nhiều công cụ tiện ích như giơ tay, bảng trắng, ghi lại video.. phù hợp cá nhân. Tuy nhiên chỉ tổ chức cuộc họp dưới 40 phút và phải cài đặt ứng dụng. Để khắc phục những hạn chế đó từ những năm học trước và năm học này bản thân Tôi đã đăng kí cho 100% cán bộ, giáo viên tài khoản email có đuôi “ edu”. Khi sử dụng tài khoản này có thể khắc phục hạn chế của zoom. Đối với ứng dụng Google meet: Không cần cài đặt bảo mật cao, liên kết goole gửi file, tạo bảng. Khi sử dụng mail có đuôi edu có thể mở phòng lên tới 100 người tham gia, phù hợp khi hội họp, tập huấn và google meet có độ bảo mật cao. Làm thế nào để sử dụng hai công cụ này hiệu quả: Năm học 2021- 2022 Tôi tham mưu nhà trường tổ chức cho trẻ 4-5 tuổi, 5-6 tuổi tổ chức tương tác với trẻ trực tiếp qua Zoom mỗi tuần 1 hoạt động. Để buổi tương tác hiệu quả ngay từ đầu năm học Tôi yêu cầu giáo viên đưa ra một số quy định: Tắt Míc, mở Camera, chỉ bật Míc khi trả lời, ngồi học ngay ngắn Các quy định đó được giáo viên hình ảnh hóa để cùng trao đổi với trẻ. Khi trẻ làm chưa đúng quy định cuối buổi học cô cho trẻ xem lại những hình ảnh đó và cùng nhau trò chuyện về quy định, lúc đó trẻ ghi nhớ nhanh; Sau khoản 3-4 buổi trẻ nhớ nhanh và thực hiện theo đúng quy định; Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, trẻ khó ngồi ngay ngắn và im trong thời gian dài vì vậy trong quá trình tổ chức giáo viên cần tổ chức xen kẽ các trò chơi vui nhộn để tạo hứng thú cho trẻ như trò chơi: Tớ cũng thế, La bàn, triển lãm, trò chơi ngón tay, sáng tác nhạc .Ngoài ra để nhiều trẻ được tương tác với cô, tránh sự nhàm chán và mất tập trung Tôi chỉ đạo giáo viên sử dụng công cụ chia nhóm trên zoom hoặc google meet để chia lớp thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm có cô giáo phụ trách ở đó như vậy giáo viên và trẻ được tương tác với nhau nhiều; Tuy nhiên khi sử dụng Google Meet phụ huynh cần có gmail để đăng nhập nên khi tổ chức tương tác trực tuyến với phụ huynh Tôi hướng để giáo viên sử dụng Zoom; Để tạo ra những biểu mẫu thu thập thông tin từ phía phụ huynh, tạo kho học liệu dùng chung Tôi nghiên cứu và định hướng cho giáo viên sử dụng công cụ google biểu mẫu, goole tài liệu và google trang tính; Những công cụ này đều là ứng dụng Google dễ sử dụng và hiệu quả cao. Các công cụ xây dựng học liệu cho trẻ bằng các trò chơi tương tác : Có rất nhiều các công cụ để tạo trò chơi tương tác giáo viên có thể sử dụng hướng dẫn phụ huynh chơi cùng con như Kahoot, Baamboolo, Word Walk, Quizzi, LiverWord
  11. 11 Sheet giáo viên sử dụng công cụ này thiết kế trò chơi sau đó gửi link để phụ huynh chơi cùng con tại nhà rất hiệu quả; Đối với việc chỉnh sửa video, xây dựng đoạn video clip có rất nhiều các phần mềm, các công cụ hỗ trợ như: Canva, Capcut, movimaker, Camtasia, .Qua quá trình nghiên cứu Tôi đã triển khai tới cán bộ giáo viên để căn cứ vào tình hình thực tế và khả năng giáo viên, giáo viên lựa chọn những công cụ hỗ trợ làm video cho phù hợp Kết quả: Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu Tôi tham mưu nhà trường sử dụng công cụ Zalo, facebook để quản lý lớp học; Sử dụng công cụ Zoom, Google meet để tạo ra buổi tương tác trực tuyến cô và trẻ; Sử dụng Quizzi, Live Word Sheet để thiết kế trò chơi, phiếu bài tập; Sử dụng Camtasia, Canva, Capcut để chỉnh sửa video Tôi đã xây dựng các chuyên đề với nội dung mình nghiên cứu và triển khai tới cán bộ giáo viên 4 chuyên đề tại trường;100% các đồng chí cán bộ, giáo viên hưởng ứng tham gia. 5.3. Triển khai các chuyên đề ứng dụng CNTT cho toàn thể cán bộ, giáo viên tham gia; Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp khiến cho trẻ không được đến trường. Theo sự chỉ đạo của Bộ, Sở, Phòng giáo dục khi trẻ nghỉ học các nhà trường cần xây dựng những nội dung tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại nhà; Đứng trước yêu cầu nhiệm vụ năm học và tình hình thực tế của giáo viên trường Tôi cùng với những nội dung Tôi đã nghiên cứu, Bản thân Tôi đã làm những việc sau: Tôi tham mưu với các đồng chí trong ban giám hiệu mở các buổi bồi dưỡng chuyên đề cho giáo viên trong thời gian các con nghỉ dịch tại nhà; Được sự thống nhất của các đồng chí trong ban giám hiệu Tôi đã phối hợp với tổ công nghệ thông tin trong nhà trường mở 4 chuyên đề tại trường. Kế hoạch số 82 /KH-MNCS ngày 08 tháng 9 năm 2021 của trường mầm non Châu Sơn triển khai chuyên đề bồi dưỡng giáo viên sử dụng phần mềm ứng dụng Zoom, google Meet; Kế hoạch số 102/KH-MNCS ngày 15 tháng 10 năm 2021 của trường mầm non Châu Sơn triển khai chuyên đề bồi dưỡng giáo viên thiết kế bài giảng Powerpoit và thiết kế trò chơi trên Powerpoit; Kế hoạch số 115/KH-MNCS ngày 23 tháng 11 năm 2021 của trường mầm non Châu Sơn triển khai chuyên đề bồi dưỡng giáo viên sử dụng phần mềm thiết kế video Camtasia8;
  12. 12 Kế hoạch số 125 /KH-MNCS ngày 08 tháng 12 năm 2021 của trường mầm non Châu Sơn triển khai chuyên đề hướng dẫn giáo viên thiết kế trò chơi cho trẻ trên google form, quizzi, Liver Work sheet; Các chuyên đề tại trường chủ yếu chúng Tôi cùng nhau chia sẻ, thảo luận cách thức sử dụng phần mềm và các ứng dụng cơ bản để mọi giáo viên đều có thể sử dụng được ngay trong quá trình phối hợp với phụ huynh; Ngoài các chuyên đề do nhà trường tổ chức, Tôi tạo điều kiện để toàn thể cán bộ giáo viên tham gia các buổi tập huấn, các chuyên đề do cấp trên tổ chức. Năm học 2021- 2022 Phòng giáo dục đã phối hợp với trường bồi dưỡng cán bộ quản lý mở nhiều chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin giúp giáo viên lựa chọn và hướng dẫn phụ huynh tổ chức những hoạt động giáo dục phù hợp với điều kiện chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà để hướng tới đạt được mục tiêu, kết quả mong đợi cuối độ tuổi theo Chương trình giáo dục mầm non. Tuy nhiên, số lượng cán bộ, giáo viên mỗi trường tham gia 1-2 đồng chí. Khi các đồng chí về triển khai lại khó tránh khỏi những thiếu sót. Để khắc phục điều đó và tạo hứng thú khi các đồng chí tham gia trực tiếp với giảng viên Tôi đã chỉ đạo tổ công nghệ thông tin trong nhà trường chia sẻ trực tiếp nội dung tập huấn thông qua một ứng dụng khác (Zoom hoặc Google Meet) để các đồng chí được tham gia 100% Không dừng lại ở việc chỉ giáo viên tham gia tập huấn, Tôi thường xuyên tham gia học cùng giáo viên kịp thời hỗ trợ giáo viên khi gặp khó khăn; Để nắm bắt được sự chuyên cần, mức độ tiếp thu và ứng dụng sau mỗi chuyên đề cấp trường hoặc do cấp trên tổ chức của giáo viên đến đâu Tôi điểm danh mỗi buổi tập huấn, sau tập huấn yêu cầu giáo viên tạo ra các bài thu hoạch từ những nội dung các đồng chí được học. Qua đó Tôi nắm bắt được mức độ tiếp thu của giáo viên để cùng tổ công nghệ thông tin nhà trường tiếp tục hỗ trợ giáo viên thành thạo những nội dung được tập huấn. Ngoài việc bồi dưỡng kĩ năng công nghệ thông tin cho giáo viên thông qua các chuyên đề do trường và phòng tổ chức, Tôi còn đưa nội dung trên vào sinh hoạt chuyên môn hàng tháng. Trong quá trình các đồng chí xây dựng video, xây dựng các bài truyền thông giáo viên khó khăn ở đâu đều đưa ra sinh hoạt chuyên môn cùng nhau tháo gỡ đưa ra cách giải quyết tốt nhât. Kết quả: Thông qua việc bồi dưỡng, tổ chức 4 chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin cho giáo viên tại trường và triển khai đầy đủ các chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin cấp huyện giáo viên trường Tôi sử dụng thành thạo các phần mềm zoom, google meet cả trong tham gia cuộc họp và tổ chức kết nối trực tiếp. 100%
  13. 13 các đồng chí sử dụng thành thạo phần mềm cắt ảnh, chỉnh sửa video, thay nền, thiết kế các trò chơi ôn tập cho trẻ đáp ứng nhu cầu học qua chơi của trẻ; Giáo viên đều chủ động trong việc tổ chức hoạt động kết nối trực tiếp phụ huynh giáo dục trẻ. 5.4. Chỉ đạo giáo viên các nhóm lớp khai thác kho học liệu của sở, của phòng và của nhà trường để lựa chọn các nội dung phối hợp phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà Một trong các nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong việc phối hợp với phụ huynh chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ là phổ biến, hướng dẫn giáo viên, phụ huynh, học sinh tích cực khai thác kho bài giảng e-learning của Sở GDĐT tại địa chỉ tích cực tham gia nền tảng dạy học và kho học liệu điện tử miễn phí tại địa chỉ: Tôi chỉ đạo giáo viên phụ trách các nhóm lớp thường xuyên truy cập vào kho học liệu điện tử của sở sưu tầm những tài liệu, những video hướng dẫn phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ để chia sẻ, tuyên truyền tới phụ huynh cùng phối hợp giáo viên chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà Đối với nhà trường qua các năm Tôi phụ trách công nghệ thông tin cũng đã xây dựng kho học liệu dùng chung; Kho học liệu gồm nhiều nội dung như giáo án các hoạt động ở các độ tuổi, hình ảnh, âm thanh, nhạc, các bài tập thiết kế cho trẻ chơi để ôn luyện, các video hướng dẫn phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ. Các đồng chí giáo viên có thể lấy tài liệu trên kho học liệu nhà trường để xây dựng video,các bài tuyên truyền của lớp hoặc khai thác các bài tập, các video của nhóm lớp khác phù hợp với lớp mình chia sẻ phụ huynh hướng dẫn phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà Kết quả: 100% giáo viên biết khai thác kho học liệu dùng chung của trường, của ngành; Giáo viên không mất nhiều thời gian lựa chọn nội dung hướng dẫn phụ huynh lớp mình, Nội dung phối hợp phụ huynh phong phú. Phụ huynh hào hứng tham gia. 5.5. Tạo sự thi đua giữa các lớp, giữa các giáo viên trong việc xây dựng các nội dung hướng dẫn phụ huynh chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ tại nhà Trường tôi công tác là trường nhỏ của huyện, số lượng giáo viên không nhiều và chủ yếu là giáo viên trẻ. Khi phải chuyển từ hình thức dạy trực tiếp sang lựa chọn nội dung phối hợp phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà qua hình thức online nhằm đáp ứng kì vọng chương trình giáo dục mầm non không tránh khỏi sự bỡ ngỡ, khó lựa chọn nội dung dẫn đến một số có tư tưởng “ Làm qua loa, làm cho xong..”.
  14. 14 Bên cạnh đó có một số giáo viên tinh thần cầu tiến chưa cao, ngại khó, ngại khổ. Năm bắt tình hình đó và trong điều kiện trẻ nghỉ tại nhà đẩy mạnh sự thi đua giữa các lớp, sự thi đua giữa các giáo viên nhằm thúc đẩy tinh thần cầu tiến cho giáo viên. Để làm được điều đó chúng Tôi làm như sau: Tạo sự thi đua giữa các lớp: Ban giám hiệu chúng Tôi làm việc thống nhất xây dựng bản tiêu chí xây dựng kho học liệu dùng chung trong nhà trường, xây dựng nhưng nội dung truyền thông đưa lên Website để tuyên truyền với phụ huynh. Các đồng chí hiệu phó phân công phụ trách theo dõi hàng tháng các nội dung các lớp xây dựng. Lớp nào có nhiều video, các nội dung tuyên truyền được ban giám hiệu duyệt đưa lên Website gửi phụ huynh, số lượng phụ huynh lớp nào tương tác nhiều, trẻ trả bài tốt lớp đó sẽ được xếp loại Tốt; Những lớp có video phải chỉnh sửa nhiều, sự tương tác phụ huynh ít, học sinh ít trả bài lớp đó xếp loại trung bình hoặc khá tùy vào chất lượng video và sự tương tác của phụ huynh. Cuối năm học chúng Tôi tổng hợp và làm căn cứ để xếp loại lớp trong năm học này. Tạo sự thi đua giữa các cá nhân Ngoài ra chúng Tôi cũng đưa ra các tiêu chí, các nội dung tạo sự thi đua giữa các cá nhân giáo viên nhằm tạo sự giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm giữa các giáo viên. Tiêu chí cá nhân giáo viên xây dựng được video có chất lượng, có nhiều bài truyền thông đưa lên Website được đánh giá cao và có sự tương tác người xem nhiều đó cũng là tiêu chí quan trọng đánh giá xếp loại hang tháng và làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ năm. Ngoài ra Tôi tham mưu với nhà trường Xây dựng kế hoạch tổ chức hội thi thiết kế video phối hợp phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ chào mừng kỉ niệm ngày nhà giáo việt nam 20/11; Khi tổ chức hội thi có 26/27 giáo viên tham gia ( 1 đồng chí nghỉ sinh) Nhiều video được ban giám hiệu và Tổ chuyên môn đánh giá cao. Gửi phụ huynh dạy trẻ phụ huynh tương tác tốt như video đồng chí Nguyễn Thị Thu Lan, Lê Thị Tuyết, lê Thị Lương, Nguyễn Thị Hà. Kết quả: Thông qua việc tạo sự thi đua các lớp mà các video các lớp gửi ban giám hiệu duyệt ngày càng có chất lượng, Kĩ năng công nghệ thông tin trong mỗi video đều tốt; Sự tương tác với phụ huynh cao. Chúng Tôi có căn cứ để đánh giá thi đua của lớp và giáo viên trong năm học này. Hội thi xây dựng video phối hợp với phụ huynh cấp trường có 26/27 giáo viên tham gia, nhà trường chọn 2 video đạt giải nhất, 4 video đạt giải nhì, 8 giải ba, 12 giải khuyến khích; có 2 video tham gia thi cấp huyện đều đạt gải cấp huyện.
  15. 15 5.6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát Đối với công tác quản lý thì việc kiểm tra, giám sát là việc làm cần thiết và quan trọng. Qua kiểm tra giám sát giúp người cán bộ quản lý biết được năng lực, mức độ hoàn thành công việc việc của giáo viên để có những nhận xét đánh giá sát thực, khách quan giúp giáo viên phát huy điểm mạnh, hạn chế được những tồn tại. Từ đó xây dựng được chất lượng hoạt động nhà trường ngày càng phát triển. Xác định được điều đó để làm tốt công tác chỉ đạo giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong việc phối hợp phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà Tôi đã phối hợp với các đồng chí trong ban giám hiệu, các đồng chí tổ trưởng chuyên môn thường xuyên kiểm tra giám sát nắm bắt việc phối hợp với phụ huynh của các nhóm lớp như sau: Kiểm tra giám sát việc đưa các nội dung phối hợp lên phần mềm kế hoạch giáo dục. Các nội dung đưa lên phần mềm phải đúng với kế hoạch phối hợp mà các nhóm lớp xây dựng và được ban giám hiệu phê duyệt; Các nội dung đưa lên phần mềm cần có bài soạn rõ rang, cụ thể giống như một kịch bản các cô chuẩn bị trước khi quay video để ban giám hiệu duyệt và nắm bắt được quy trình các video nhóm lớp xây dựng. Kiểm tra, giám sát nội dung các video mà các đồng chí xây dựng. Ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu chúng tôi đã phân công 2 đồng chí hiệu phó mỗi đồng chí phụ trách một khối kiểm duyệt nội dung cũng như chất lượng video trước khi gửi phụ huynh. Đối với nội dung các video chúng Tôi bám chặt vào hướng dẫn nhiệm vụ năm học đó là lựa chọn Các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, tình cảm kỹ năng xã hội, kỹ năng tự phục vụ, vệ sinh phòng chống dịch bệnh, hoạt động thể chất, vui chơi, học qua chơi. Đặc biệt đối với trẻ em mẫu giáo 5 tuổi, lựa chọn những nội dung cốt lõi, cần thiết, hướng dẫn cha mẹ giáo dục trẻ em ở nhà phù hợp với điều kiện của gia đình, nhằm chuẩn bị cho trẻ em tâm thế, kỹ năng sẵn sàng vào lớp Một. Ngoài nội dung chúng tôi bám sát vào bộ tiêu chí lựa chọn học liệu điện tử của nhà trường để lựa chọn các video, các bài truyền thông.Thông qua việc kiểm tra giám sát Tôi lựa chọn được những nội dung các giáo viên xây dựng tốt, nổi trội, sáng tạo chia sẻ, nêu gương trước toàn thể giáo viên, nhân viên thông qua sinh hoạt chuyên môn và họp hội đồng sư phạm nhà trường. Kiểm tra giám sát việc tương tác giữa giáo viên và phụ huynh, giữa giáo viên với trẻ. Tôi tham mưu nhà trường chỉ đạo 100% các nhóm lớp đưa các đồng chí trong ban giám hiệu là thành viên của nhóm lớp qua đó chúng Tôi năm bắt được
  16. 16 mức độ tương tác giữa giáo viên và phụ huynh ra sao, trẻ trả bài như thế nào. Đó là tiêu chí để đánh giá xếp loại hàng tháng. Ví dụ: qua kiểm tra giám sát chúng Tôi năm bắt được đa số các lớp đều có sự tương tác giữa giáo viên và phụ huynh Tốt, học sinh tích cực trả bài cho cô sau mỗi video hoặc qua hoạt động kết nối trực tiếp. Đặc biệt lớp 5 tuổi A2, 5 tuổi A1, 4 tuổi B2, Nhà trẻ D1 phụ huynh rất tích cực phối hợp nhà trường chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà, Hai lớp 5 tuổi đạt 100% phụ huynh tương tác giáo viên, 100% phụ huynh quay video học bài của các con gửi lên nhóm lớp. 44/44 học sinh tham gia đầy đủ vào các buổi kết nối trực tiếp qua Zoom vào tối thứ 7 hàng tuần. Trong quá trình giám sát Tôi thấy được một số lớp có lượng tương tác ít như lớp D2, C1 Tôi chỉ đạo giáo viên liên hệ trực tiếp với phụ huynh, tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp phù hợp đồng thời tăng cường các nội dung tuyên truyền vào nhóm lớp phù hợp với trẻ ở độ tuổi đó. Qua quá trình giám sát, có một số phụ huynh còn gửi nhầm một số nội dung không đúng quy định của nhóm hoặc trẻ cầm điện thoại của bố mẹ chơi và gửi một số sticker hoặc các nội dung không đúng. Tôi chỉ đạo giáo viên nắm bắt kịp thời và trao đỏi với phụ huynh về các quy định của nhóm và yêu cầu phụ huynh quản lý điện thoại không để trẻ sử dụng tránh làm phiền tới các phụ huynh trong nhóm Kết quả: Thông qua việc kiểm tra giám sát giúp giáo viên trường Tôi có ý thức làm việc hơn. Hầu hết các đồng chí đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chất lượng các nội dung hướng dẫn, kết nối với phụ huynh chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà ngày càng có chất lượng hơn. Phụ huynh tham gia học và trả bài các lớp đạt kết quả cao; Trẻ rất hứng thú tham gia vào các hoạt động. PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ : 1. Kết quả có so sánh đối chứng: Sau một năm thực hiện đề tài, với sự chung tay của các đồng chí trong ban giám hiệu cùng với những cô gắng của toàn thể giáo viên. Kết quả thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trong năm học 2021- 2022 được đánh giá thông qua bảng khảo sát chất lượng cuối năm như sau:
  17. 17 Đầu năm Cuối năm Đối chứng Nội dung khảo sát Tỷ lệ Đạt Tỷ lệ Tăng Giảm Đạt % % % % Giáo viên có kỹ năng sử dụng thành thạo ứng dụng zoom và 10 37 24 88.8 51.8 google meet Ký năng quay video của giáo 14 51 25 92.5 41.5 viên Kỹ năng sử dụng một số phần mềm làm video: 6 22 24 88.8 66.8 Camtasia, Canva, Capcut để thiết kế video Giáo viên có khả năng sử dụng một số ứng dụng để 8 29.6 25 92.5 62.9 thiết kế trò chơi ôn tập, củng cố cho trẻ Kỹ năng khai thác tư liệu trên không gian mạng và 8 29.6 23 85 55.4 trong kho học liệu dùng chung nhà trường Bảng 2: Bảng đối chứng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên cuối năm Nhìn vào bảng khảo sát trên tôi nhận thấy về cơ bản: Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin của đội ngũ giáo viên trường tôi đã có sự tiến bộ, Hầu hết giáo viên sử dụng thành thạo và hiệu quả công cụ Zoom và Google Meet, Giáo viên biết sử dụng các phần mềm hỗ trợ làm video tăng 41.5% so với đầu năm. Giáo viên biết thiết kế các trò chơi cho trẻ tăng 62.9% so với đầu năm. Đặc biệt có 85% các đồng chí biết khai thác tài liệu trên kho học liệu của sở, của trường để ứng dụng vào nhóm lớp tiết kiệm được thời gian cho giáo viên và nội dung các hoạt động phong phú điều đó cho thấy các biện pháp tôi thực hiện đã bước đầu có hiệu quả. Đó là nền tảng để
  18. 18 giáo viên ứng dụng các kĩ năng công nghệ thông tin cơ bản vào chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ khi trẻ ở nhà cũng như trẻ tới trường nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ. 2. Kết luận: Trong thời gian trẻ nghỉ dịch tại nhà thì việc chỉ đạo ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin trong việc kết nối, trao đổi thông tin 2 chiều giữa gia đình và nhà trường càng trở lên hữu ích, CNTT giúp chúng ta xích lại gần nhau hơn trong công tác quản lý, chỉ đạo và thực hiện các nhiệm vụ phối hợp chăm sóc, giáo dục trẻ tại nhà. Với việc ứng dụng những ưu thế từ mạng internet, từ các phần mềm chỉnh sửa ảnh, giáo viên có thể tạo ra các video hay, hấp dẫn, bổ ích; ngoài ra, nhờ những thành tựu của công nghệ thông tin sẽ giúp giáo viên giảm bớt gánh nặng trong công tác chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ học liệu cho quá trình giảng dạy nhưng hiệu quả đem lại vẫn như mong đợi, các hoạt động dạy có sử dụng CNTT sẽ giúp trẻ hứng thú hơn, tích cực hơn, sôi nổi hơn và trẻ luôn được cảm nhận gần cô hơn mặc dù trẻ vẫn phải nghỉ ở nhà để phòng, chống dịch COVID -19, qua các ứng dụng trên chúng ta cảm thấy dù ở đâu trẻ vẫn được tham gia học đầy đủ các hoạt động cô triển khai, nó cũng phù hợp với quan điểm dạy học lấy trẻ làm trung tâm mà ngành giáo dục đặt ra cho đội ngũ giáo viên. Chính những ưu thế vượt trội trên, mà trong thời gian trẻ nghỉ học, nhà trường đã tổ chức rất nhiều chuyên đề về CNTT cho đội ngũ giáo viên được tham gia học tập đầy đủ nhằm nâng cao năng lực chuyên môn đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mà ngành đã đề ra một cách hiệu quả nhất. 3. Đề xuất, kiến nghị 3.1. Đối với các ban ngành lãnh đạo trong huyện và Phòng GD-ĐT Ba Vì: Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại về công nghệ thông tin cho các nhà trường; Có kho học liệu phong phú, đa dạng về các lĩnh vực để giáo viên trong huyện tham khảo, chia sẻ các thông tin bổ ích tới giáo viên và phụ huynh; Tiếp tục tổ chức các buổi chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin cho 100% giáo viên được tham gia giúp họ nâng cao năng lực công nghệ thông tin phục vụ công tác nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục trẻ ngày càng đổi mới và phát triển. 3.2. Đối với ban giám hiệu: Tiếp tục kiểm tra giám sát giáo viên trong buổi tổ chức chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin do phòng và nhà trường tổ chức;
  19. 19 Tạo ra các sân chơi, các phong trào thi đua để giáo viên tham gia học hỏi, trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau; Có chính sách khích lệ, động viên kịp thời những giáo viên đạt giải cao công nghệ thông tin; Tiếp tục bổ sung cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại đáp ứng yêu cầu về công nghệ thông tin hiện nay để giáo viên sử dụng trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ; 3.3. Đối với giáo viên: Cần có tinh thần cầu thị, luôn có ý thức tự học, tự vươn lên để xây dựng tập thể trường ngày càng tiến bộ và phát triển hơn. Tham gia đầy đủ các buổi tập huấn, các hội thi do phòng giáo dục và nhà trường tổ chức; Tăng cường các biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong việc kết nối với phụ huynh; Trên đây là toàn bộ những sáng kiến kinh nghiệm và những kiến nghị của riêng cá nhân tôi sau một năm nghiên cứu thực hiện đề tài. Tôi kính mong hội đồng sư phạm nhà trường và chuyên viên phòng giáo dục xem xét đóng góp ý kiến cho đề tài của tôi được hoàn thiện hơn./. Tôi xin cam đoan sáng kiến kinh nghiệm trên là do bản thân tự viết ra, không sao chép nội dung của người khác. Tôi xin chân thành cảm ơn!
  20. 20 Hình ảnh 1: Minh chứng biện pháp 5.1 Hình ảnh 2: Minh chứng biện pháp 5.2