SKKN Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo bé trong trường Mầm Non - Nguyễn Thị Minh Trang
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo bé trong trường Mầm Non - Nguyễn Thị Minh Trang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_giai_phap_nang_cao_chat_luong_giao_duc_ki_nang_s.pdf
Nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo bé trong trường Mầm Non - Nguyễn Thị Minh Trang
- UBND HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MN CHÂU SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO BÉ TRONG TRƯỜNG MẦM NON Tên tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang Đơn vị công tác: Trường mầm non Châu Sơn Chức vụ: Giáo viên Năm 2025
- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------- ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến huyện Ba Vì Ngày Trình độ Nơi Chức Họ và tên tháng chuyên Tên sáng kiến Công tác danh năm sinh môn “Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Nguyễn Thị Trường MN Giáo 20/01/1988 Đại học kỹ năng sống cho trẻ Minh Trang Châu Sơn viên lứa tuổi mẫu giáo bé trong trường mầm non”. - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực giáo dục mẫu giáo, giải quyết vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động nhận biết cho trẻ, giải quyết nhu cầu chơi của trẻ. - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo bé trong trường mầm non”. - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử từ tháng 9/2024 tại lớp mẫu giáo 3-4 tuổi C2. - Mô tả bản chất của sáng kiến: Sáng kiến nhằm tạo thuận lợi cho giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ tại nhóm lớp đồng thời giúp trẻ thích thú hơn, tự sáng tạo trong chính hoạt động của mình, nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ. Các giải pháp: * Giải pháp 1: Học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. * Giải pháp 2: Sưu tầm các bài thơ, bài hát, ca dao, đồng dao, trò chơi dân gian, câu chuyện, video clip để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. * Giải pháp 3: Xây dựng môi trường lớp học, làm đồ dùng, đồ chơi sáng tạo để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. * Giải pháp 4: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động trong một ngày. * Giải pháp 5: Phối hợp với phụ huynh rèn kỹ năng sống cho trẻ. * Giải pháp 6: Cô giáo là tấm gương sáng - Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: + Sự đồng tình của ban giám hiệu trong việc thực hiện các biện pháp. + Sự thống nhất giữa giáo viên trong cùng lớp.
- + Sự phối hợp của phụ huynh và học sinh để giáo viên thực hiện được các biện pháp đó. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: + Giảm các chi phí cho việc mua các đồ dùng không hợp lí hoặc không cần thiết, tránh lãng phí. + Tận dụng được các đồ dùng sẵn có, cho trẻ tự sáng tạo biến thành đồ dùng học tập và hoạt động chơi. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: 3.1. Đối với lớp Năm học 2024- 2025 lớp tôi cũng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của Ban giám hiệu giao cho và được được các đồng nghiệp học hỏi các kinh nghiệm trang trí môi trường lớp học theo hướng đổi mới theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm và trẻ lớp tôi được đánh giá rất cao về thao tác thực hiện các kỹ năng. Môi trường lớp học xanh, sạch, đẹp, sáng tạo, lấy trẻ làm trung tâm giúp trẻ hứng thú khi tham gia các hoạt động. Các góc chơi được bố trí hợp lý, gọn gàng, ngăn nắp, đồ dùng, đồ chơi sáng tạo, đa dạng, phong phú, hấp dẫn và an toàn, thuận tiện đối với trẻ khiến trẻ luôn hào hứng tham gia tất cả các hoạt động diễn ra trong ngày. 3.2. Đối với phụ huynh: Các bậc phụ huynh cũng luôn coi trọng trẻ và tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục trẻ ở trường, cha mẹ cũng cảm thấy được sự thành công của trẻ và tin tưởng vào sự giáo dục của nhà trường. 3.3. Đối với giáo viên: Bản thân tôi cũng có thêm nhiều kiến thức và kỹ năng trong việc rèn kỹ năng sống cho trẻ. Tôi cũng được trau dồi thêm kiến thức, có nhiều kinh nghiệm trong việc giáo dục trẻ, được phụ huynh tin tưởng và các bạn đồng nghiệp thương yêu, quí mến hơn. 3.4. Đối với trẻ Trẻ tiếp thu được những kỹ năng mà cô đã dạy trẻ. Qua đó, trẻ của lớp tôi luôn hào hứng, tích cực tham gia nên các kỹ năng sống của trẻ tốt lên rất nhiều, trẻ tự tin hơn, giao tiếp tốt hơn, có hành vi văn minh trong ăn uống và các kỹ năng tự phục vụ của trẻ đã khéo léo, linh hoạt hơn rất nhiều. Trẻ có thái độ đúng đắn, tích cực trong việc tự rèn các kỹ năng và trẻ có các thói quen về giao tiếp như: Trẻ biết chào hỏi khi đến lớp, khi ra về mà không cần cô nhắc, trẻ biết thưa gửi lễ phép với người lớn, biết nói lời cảm ơn khi nhận được
- quà hay sự giúp đỡ, biết xin lỗi khi làm sai. Trẻ luôn hợp tác tốt với các bạn trong khi học, trong khi chơi. Trẻ có kỹ năng tự bảo vệ bản thân. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Phú Hồng, ngày 15 tháng 03 năm 2025 Người nộp đơn (Ký và ghi rõ họ tên) Nguyễn Thị Minh Trang
- Mẫu 03 TRƯỜNG MN CHÂU SƠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HĐSK MN CHÂU SƠN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Phú Hồng, ngày 20 tháng 03 năm 2025 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ - Tên sáng kiến: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo bé trong trường mầm non”. - Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Minh Trang - Họ tên người đánh giả: Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ - Cơ quan công tác: Trường mầm non Châu Sơn Nhận xét 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: (Nhận xét về tính mới và nêu rõ tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể, rõ ràng cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): 45 điểm. 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm Sáng kiến có tính mới, các giải pháp cải tiến so với phương pháp cũ, có tính ứng dụng cao và phù hợp với điều kiện hiện tại. Cách thức thực hiện được trình bày chi tiết, dễ hiểu và có thể áp dụng trong thực tế. Điểm đánh giá: 18 điểm 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ (như có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp ): 5 điểm Phân tích rõ ràng những điểm khác biệt so với giải pháp cũ và giải pháp mới, có những số liệu khảo sát cụ thể trước và sau khi áp dụng, có so sánh đối chứng kết quả đầy đủ chi tiết, rõ ràng. Điểm đánh giá: 4 điểm 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo, hiệu quả (nêu rõ kết quả, hiệu quả khi áp dụng cách làm, giải pháp mới ): 20 điểm Giải pháp mới được trình bày chi tiết, có tính logic và dễ dàng triển khai. Sáng kiến có sự phân tích kỹ lưỡng về tính sáng tạo, thể hiện sự cải tiến. Điểm đánh giá: 15 điểm 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng (Nhận xét mức độ thực hiện và khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng ngành, lĩnh vực hoặc rộng rãi cho nhiều ngành, địa phương trong thực tế đạt hiệu quả): 30 điểm. 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước (khi chưa áp dụng nội dung sáng kiến) và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp mới: 10 điểm.
- Sáng kiến đã đưa ra các số liệu cụ thể để chứng minh tính hiệu quả, bao gồm các chỉ số trước và sau khi thực hiện. Những số liệu này góp phần khẳng định tính thực tiễn của giải pháp. Điểm đánh giá: 8.5 điểm. 2.2. Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. Sáng kiến có khả năng nhân rộng ra các đơn vị khác trong cùng lĩnh vực. Phương pháp triển khai đơn giản giúp tăng tính ứng dụng và phổ biến của sáng kiến trong thực tế. Điểm đánh giá: 15.5 điểm 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến (Nhận xét sáng kiến đó đã được số đông thừa nhận và đã mang lại hiệu quả cụ thể cho cơ quan, tổ chức như: Nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính - sự nghiệp, hiệu quả kinh tế hoặc lợi ích xã hội, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả công tác): 20 điểm Các giải pháp có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có thể ứng dụng rộng rãi đối với giáo viên công tác tại các trường mầm non, góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục trẻ. Điểm đánh giá: 15.5 điểm 4. Nội dung 4. Về hình thức (Nhận xét cách trình bày khoa học, đầy đủ, bố cục logic): 5 điểm. Sáng kiến được trình bày khoa học, bố cục rõ ràng và hợp lý. Nội dung mạch lạc, dễ hiểu, đảm bảo tính logic trong từng phần, đúng thể thức văn bản, văn phong phù hợp. Điểm đánh giá: 4.5 điểm Tổng số điểm sáng kiến: 81 điểm Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt phải đạt 70 điểm trở lên) - Đạt - Không đạt □ Người đánh giá (Họ, tên và chữ ký) Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ
- MỤC LỤC STT TÊN MỤC Trang I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến 1 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến 3 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. 3 II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 4 1. Thực trạng vấn đề 4 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 6 3. Giải pháp thực hiện cụ thể để giải quyết vấn đề 7 Giải pháp 1: Học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên 3.1. môn, kinh nghiệm và kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục 8 kỹ năng sống cho trẻ. Giải pháp 2: Sưu tầm các bài thơ, bài hát, ca dao, đồng dao, trò 3.2. chơi dân gian, câu chuyện, video clip để giáo dục kỹ năng sống 9 cho trẻ. Giải pháp 3: Xây dựng môi trường lớp học, làm đồ dùng, đồ chơi 3.3. 10 sáng tạo để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Giải pháp 4: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt 3.4. 12 động trong một ngày. 3.5. Giải pháp 5: Phối hợp với phụ huynh rèn kỹ năng sống cho trẻ. 15 3.6 Giải pháp 6: Cô giáo là tấm gương sáng 15 4. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị 16 5 Hiệu quả của sáng kiến 17 5.1. Hiệu quả về khoa học 17 5.2. Hiệu quả về kinh tế 17 5.3. Hiệu quả về xã hội 18 6. Tính khả thi 18 7. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến 18 8. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến 18 III. Kiến nghị - đề xuất 18
- PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến Từ ngàn xưa kinh nghiệm của cha ông ta đã đúc kết nhiệm vụ học đầu tiên của mỗi con người phải là “Tiên học lễ, hậu học văn”. Lễ phép là nét đẹp văn hoá được đặt nên hàng đầu khi nhìn nhận và đánh giá về một ai đó mà chúng ta thường bàn luận. Trong thời đại hiện nay tiếp thu nhiều nền văn hoá khác nhau, nhưng đâu đó vẫn còn nhiều câu chuyện thương tâm về đạo đức lễ giáo của con người. Việc giáo dục đạo đức, lễ giáo, kỹ năng sống cho thế hệ trẻ còn rất hạn chế. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non là một phần rất quan trọng trong nội dung giáo dục trẻ, là khâu đầu tiên hình thành nhân cách cho trẻ khác biệt là tuổi mầm non. Vì vậy, trong mục tiêu giáo dục trẻ mầm non ghi rõ. Hình thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa: khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, phát triển hài hoà, giàu lòng yêu thương biết quan tâm, nhường nhịn, giúp mọi người, biết yêu thương và giữ gìn cái đẹp, thông minh ham hiểu biết, thích khám phá và tìm tòi một số khả năng: Nhẹ nhàng, khéo léo, biết xin lỗi và nhận lỗi. Kỹ năng sống là kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội giúp trẻ chuyển đổi những gì trẻ biết, những gì trẻ cảm nhận và những gì trẻ quan tâm thành những năng lực thực thụ giúp trẻ biết mình phải làm gì và làm như thế nào (hành vi) để giải quyết các tình huống khác nhau trong cuộc sống. Đối với trẻ mầm non đây là giai đoạn trẻ học, tiếp thu, lĩnh hội những giá trị sống để phát triển nhân cách. Do đó, việc dạy kỹ năng sống cho trẻ là rất cần thiết bởi nó thúc đẩy sự phát triển cá nhân trẻ, giúp trẻ có nhận thức đúng và hành vi ứng xử phù hợp ngay từ độ tuổi mầm non. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế rất nhiều bậc phụ huynh bận với công việc nên có ít thời gian để quan tâm và hướng dẫn con cái. Chính vì vậy, trẻ thường hay ỷ lại, hay dựa dẫm vào người lớn vì thiếu kỹ năng sống, thiếu kỹ năng tự lập. Khi gặp khó khăn là chúng tìm ngay đến người lớn mà không tự tìm cách giải quyết. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức, tình cảm của trẻ. Từ những hạn chế của trẻ là một giáo viên có nhiều năm công tác trong nghề, với lòng yêu nghề, mến trẻ, có tinh thần và trách nhiệm trong công việc tôi luôn trăn trở rất nhiều về việc làm sao để trẻ có được những kỹ năng sống để trẻ tự phục vụ bản thân mình, không còn phụ thuộc, ỷ lại vào người lớn. Chính vì vậy, tôi đã luôn suy nghĩ để tìm các biện pháp rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ lớp mình. Tôi đã mạnh dạn chia sẻ cùng chị em đồng nghiệp một số biện pháp mà tôi đã áp dụng có hiệu quả dưới dạng đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Một số giải
- pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo bé trong trường mầm non”. 2. Mục đích của đề tài, sáng kiến: Mục tiêu của việc nghiên cứu và thực hiện đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo bé trong trường mầm non” nhằm giúp cho bản thân tôi xây dựng được kế hoạch cũng như một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo bé. Bên cạnh đó, sáng kiến giúp tôi tìm ra một số giải pháp, hình thức để giúp trẻ làm quen với một số kỹ năng sống, nhằm phát huy nâng cao tính tích cực, năng động, sáng tạo, mạnh dạn, tự tin trong mọi hoạt động và mọi hoàn cảnh của trẻ nhằm củng cố, rèn luyện cho trẻ mẫu giáo bé những kỹ năng sống cơ bản thông qua các hoạt động trong trường mầm non.. Hơn nữa, đề tài này còn giúp cho phụ huynh hiểu thêm về môi trường giáo dục mầm non nói chung, cũng như hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo bé trong trường mầm non nói riêng. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: - Thời gian nghiên cứu: Năm học 2024 - 2025 - Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp hiệu quả nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo bé (3 - 4 tuổi) - Đối tượng khảo sát: Trẻ mẫu giáo bé 3 - 4 tuổi trường mầm non nơi tôi công tác năm học 2024 - 2025. - Phạm vi nghiên cứu: Lớp 3 tuổi C2 trường mầm non nơi tôi công tác.
- PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Thực trạng vấn đề. 1.1. Thực trạng Trong năm học 2024 – 2025, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 3 tuổi C2 với tổng số học sinh là 32 trẻ. Để thực hiện mục tiêu của sáng kiến, đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng của lớp mình. Tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau: a. Thuận lợi Về cơ sở vật chất: Khuân viên trường, lớp học rộng rãi, sạch sẽ, thoáng mát, có đầy đủ đồ dùng dạy học theo thông tư 01. Về phía giáo viên: Được sự quan tâm, giúp đỡ trực tiếp của ban giám hiệu nhà trường đã thường xuyên bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân tôi cũng như các giáo viên trong nhà trường. Trong quá trình công tác tôi luôn cố gắng học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu kiến thức trao đổi cùng đồng nghiệp để nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ bản thân. Tôi đã có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ và thực sự yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình trong công việc, có phẩm chất đạo đức tốt. Về phía trẻ: Tỷ lệ trẻ ra lớp đạt từ 90% trở lên và được phân theo đúng độ tuổi, các cháu khoẻ mạnh, phát triển thể lực tốt. Một số cháu nhanh nhẹn, tích cực tham gia hoạt động. Về phía phụ huynh: Một số phụ huynh nhiệt tình kết hợp cùng giáo viên chủ nhiệm trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ tại gia đình để đánh giá trẻ, luôn có ý kiến trao đổi với giáo viên chủ nhiệm về những vấn đề thông tin của trẻ. Phụ huynh tin tưởng, quý mến giáo viên, luôn sẵn sàng ủng hộ nhiệt tình trong các hoạt động của trường, lớp. b. Khó khăn Về cơ sở vật chất: Đồ dùng minh họa tự tạo để phục vụ hoạt động tạo hình cho trẻ còn hạn chế chưa phong phú, hấp dẫn trẻ. Về phía giáo viên: Giáo viên cung cấp kiến thức cho trẻ còn áp đặt, dập khuôn theo mẫu của cô. Tổ chức hoạt động còn chưa có sự linh hoạt và tính sáng tạo. Về phía trẻ: Trẻ còn nhỏ, mới chuyển từ nhà trẻ lên độ tuổi mẫu giáo nên còn chưa mạnh dạn, tự tin, có nhiều trẻ đặc biệt một sô trẻ sinh cuối năm kĩ năng của trẻ bị hạn chế. Mặt khác nhận thức của trẻ không đồng đều, trẻ tham gia học tập một cách thụ động, chưa dám nói lên ý kiến cá nhân của mình với cô và bạn trong lớp nên nhiều trẻ còn chưa phát huy được hết khả năng, năng lực, kỹ năng, sở thích và các tính cách của bản thân. Về phía phụ huynh: Một số phụ huynh còn chưa nhận thức được đầy đủ
- về tầm quan trọng của việc phát triển kĩ năng cho trẻ có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống xung quanh trẻ, chưa nắm bắt được nội dung cụ thể của hoạt động nên chưa nhiệt tình phối hợp với giáo viên trong việc chăm sóc giáo dục trẻ. 1.2. Cách làm cũ trước khi thực hiện đề tài 1.2.1 Về với bản thân: Tôi đã tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng sống cho trẻ trong trường mầm non tuy nhiên tôi còn ngại thay đổi học tập mang tính hình thức, chưa chú trọng việc tự chủ động nghiên cứu, sáng tạo về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. 1.2.2 Về với giáo viên: Nhà trường đã bồi dưỡng cho giáo viên chúng tôi về kỹ năng sống cho trẻ nhưng giáo viên còn coi nhẹ việc học tập kỹ năng sống và tổ chức các hoạt động một cách đơn giản đó là cô giáo đưa ra các tình huống có cho trẻ bằng lời và cho trẻ trả lời một số câu hỏi đơn giản liên quan đến nội dung cô cần cung cấp và cuối cùng là cô khái quát lại nội dung cho trẻ lắng nghe. Khi xây dựng kế hoạch kỹ năng sống cho trẻ giáo viên tự nhận thấy trong kế hoạch mình xây dựng còn một số hạn chế như: Nội dung giáo dục rèn kỹ năng sống thể hiện 1 phần nhỏ, chưa có nội dung cụ thể theo các nhóm kỹ năng sống. Chưa bám sát, thể hiện nội dung đáp ứng đầy đủ kết quả mong đợi và 100 nội dung đánh giá trẻ. Nội dung rèn kỹ năng sống chủ yếu lồng ghép trong nội dung CSGD trẻ. Chưa được xây dựng cụ thể, riêng biệt; Nội dung giáo dục kỹ năng sống đơn điệu. Tổ chức hoạt động rèn kỹ năng sống chủ yếu qua hoạt động lao động và hoạt động vệ sinh đề tài chưa phong phú, chưa chú ý đến các đề tài hiệu quả phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Số lượng hoạt động rèn kỹ năng sống tổ chức trong năm học ít. 1.2.3 Về cha mẹ học sinh: Tôi đã tuyên truyền qua góc tuyên truyền, trao đổi trực tiếp với phụ huynh về: kỹ năng sống, lễ giáo cơ bản cần thiết cho trẻ. Tôi đã in các loại tài liệu tuyên truyền đến phụ huynh tại bảng tin của lớp. Với hình thức chủ yếu là in tài liệu tuyên truyền qua bảng tin tại góc tuyên truyền, trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay, không có nhiều phụ huynh dừng lại đọc 1 văn bản giấy. Do vậy hình thức này làm giảm hiệu quả công tác tuyên truyền. 1.3. Nhược điểm của cách làm cũ Với cách làm cũ tôi thấy mình chưa xác định được những kỹ năng sống phù hợp với trẻ mẫu giáo bé để giáo dục cho trẻ lớp mình.
- Trẻ không có cơ hội được thực hành trải nghiệm thực tế nhiều điều đó đã đẩy trẻ vào thế thụ động, không phát huy được tính chủ động sáng tạo của trẻ, hoạt động chưa lấy trẻ làm trung tâm... Các nội dung cô truyền đạt về rèn kỹ năng sống cho trẻ lĩnh hội chậm và không khắc sâu được trong trí nhớ của trẻ. Phương pháp dạy đơn điệu nhàm chán, hình thức học mang tính chất bắt buộc, nội dung không phong phú, ít được lồng ghép các nội dung rèn kỹ năng sống trong các chủ đề. Môi trường cho trẻ hoạt động được quan tâm nhưng chưa sát sao. Một số phụ huynh thờ ơ và bỏ qua những hành động sai của trẻ nên vô tình hình thành thói quen ở trẻ, khiến cho giáo viên rất khó khăn trong việc rèn kỹ năng sống cho trẻ. Trước những thực trạng trên, tôi đã phối hợp với giáo viên trong lớp tiến hành khảo sát toàn bộ 32 trẻ trong lớp từ đầu năm học để nắm rõ đặc điểm, tâm lý, kỹ năng sống của trẻ từ đó có cơ sở xây dựng kế hoạch rèn luyện các kỹ năng sống cho trẻ hợp lý. Bên cạnh đó, còn xác định được nhiệm vụ cơ bản đối với từng trẻ với việc dạy kỹ năng ở mọi hoạt động trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ và đã thu được kết quả như sau: 1.4. Số liệu điều tra trước khi thực hiện: BẢNG KHẢO SÁT ĐẦU NĂM HỌC VỀ KIẾN THỨC - KỸ NĂNG CỦA TRẺ LỚP MẪU GIÁO BÉ C2 (Tháng 9 năm 2024) Số trẻ đạt Số trẻ chưa đạt STT Nội dung khảo sát Số Số Tỉ lệ % Tỉ lệ % lượng lượng 1 Kỹ năng tự phục vụ 7/32 21,9% 25/32 78,1% 2 Kỹ năng giao tiếp 9/32 28,1% 23/32 71,9% 3 Kỹ năng hợp tác 6/32 18,8% 26/32 81,2% 4 Kỹ năng tự bảo vệ 7/32 21,9% 25/32 78,1% 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề Lứa tuổi mầm non là giai đoạn học - tiếp thu - lĩnh hội giá trị sống để phát triển nhân cách. Kỹ năng sống là những kỹ năng nền tảng để hình thành nhân cách cho trẻ, phát triển về các mặt thể chất, tình cảm - xã hội, ngôn ngữ, nhận thức giúp trẻ sẵn sàng đi học.
- Về thể chất: Giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ an toàn, mạnh khỏe, tăng cường thể chất, sự kiên trì, bền bỉ, tháo vát. Thông qua các bài học và các hoạt động vận động trong quá trình dạy kỹ năng sống, trẻ sẽ được rèn luyện sự dẻo dai, khéo léo, giúp trẻ nhanh chóng thích ứng với các điều kiện sống thay đổi. Về tình cảm: Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ biết lắng nghe, chia sẻ, biết yêu thương, đồng cảm với mọi người xung quanh, biết ơn công lao của cha mẹ. Về nhận thức: Giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ có một nền tảng kiến thức, thích ứng với mọi hoạt động học tập như: sẵn sàng hòa nhập, vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ... xây dựng cho trẻ niềm ham mê học tập suốt đời. Về giao tiếp - ngôn ngữ: Giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ tự tin, mạnh dạn, tôn trọng người khác, có khả năng giao tiếp tốt với mọi người, đặc biệt rèn luyện cho trẻ biết lắng nghe, nói chuyện lễ phép, hòa nhã. Chính vì vậy, tôi đã nghiên cứu các nhóm kỹ năng có thể dạy trẻ 3 - 4 tuổi như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng tự bảo vệ Các kỹ năng này không tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ với nhau, được thể hiện đan xen vào nhau, có thể thực hành trong bất cứ tình huống nào xảy ra hàng ngày. Việc giáo dục và vận dụng tốt sẽ giúp trẻ có nhân cách tốt. Khi giáo dục kỹ năng sống còn góp phần mở rộng nhận thức, phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Từ kết quả trên tôi thấy Kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác và kỹ năng tự bảo vệ của trẻ lớp tôi còn hạn chế. Một số trẻ nói còn chưa đủ câu, nói còn ngọng, nói lắp, kỹ năng sống của trẻ nghèo nàn. Trẻ chưa mạnh dạn, chưa biết cách xử lý một số tình huống. Chính vì vậy, tôi luôn mong muốn làm thế nào để giúp trẻ phát triển kỹ năng sống một cách trọn vẹn hơn. Sau đây tôi xin trình bày các giải pháp mà mình đã áp dụng có hiệu quả: * Giải pháp 1: Học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. * Giải pháp 2: Sưu tầm các bài thơ, bài hát, ca dao, đồng dao, trò chơi dân gian, câu chuyện, video clip để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. * Giải pháp 3: Xây dựng môi trường lớp học, làm đồ dùng, đồ chơi sáng tạo để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. * Giải pháp 4: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động trong một ngày. * Giải pháp 5: Phối hợp với phụ huynh rèn kỹ năng sống cho trẻ. * Giải pháp 6: Cô giáo là tấm gương sáng 3. Giải pháp thực hiện cụ thể để giải quyết vấn đề
- 3.1. Giải pháp 1: Học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm và xây dựng tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Bản thân tôi thường xuyên tự bồi dưỡng qua thực hành trải nghiệm, qua thực tế làm việc, qua các buổi tập huấn song song với việc nghiên cứu và học tập kiến thức thông qua các cuốn tài liệu hướng dẫn về cách tổ chức, rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ mầm non. Bên cạnh đó, tôi còn đọc các tạp chí Giáo dục mầm non, tìm hiểu qua mạng internet, xem phim ảnh, tìm hiểu thêm về các phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non của các trường quốc tế như Nhật Bản, Hàn Quốc, các nước châu Âu như Waldorf, Montessori và Reggio Emilia trên kênh youtube Tôi tự bồi dưỡng qua các buổi tập huấn, các họp chuyên môn của khối, của trường, tôi thường xuyên xin ý kiến, chỉ đạo của Ban giám hiệu, của Tổ trưởng chuyên môn và của các chị em đồng nghiệp về những vấn đề liên quan đến cách tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ và những vấn đề mà tôi chưa biết. Tôi luôn tích cực đổi mới các phương pháp rèn luyện ở mọi lúc, mọi nơi nhằm khuyến khích sự chú ý, tập trung tích cực và khai thác, phát huy các kỹ năng rèn luyện của từng trẻ. Ảnh minh chứng 1 Từ kiến thức và kinh nghiệm trên, tôi đã xác định được những kỹ năng sống phù hợp với trẻ mẫu giáo bé để giáo dục cho trẻ lớp mình như: + Kỹ năng tự phục vụ: chăm sóc bản thân, chăm sóc môi trường, vận động tinh + Kỹ năng chăm sóc bản thân: Rửa tay, rửa mặt, lấy và cất ghế, lấy và cất cốc, cài và cởi cúc áo, khóa áo, mặc và gấp quần áo, đi dép, cất dép, lau mũi + Kỹ năng chăm sóc môi trường: Lau bụi, làm sạch đồ dùng, đồ chơi trong lớp, giữ vệ sinh lớp học, lau bàn, cất đồ dùng, đồ chơi ngăn nắp, chăm sóc cây. + Kỹ năng phát triển vận động tinh: Cầm thìa đúng cách và xúc, rót/ đổ, chuyển đồ vật, đóng và mở cửa. + Kỹ năng ăn uống văn minh: Biết ăn uống đa dạng, không kén chọn, có nề nếp thói quen tốt trong ăn uống như: ngồi ngay ngắn, tự xúc ăn, mời trước khi ăn, không đùa nghịch, nói chuyện trong khi ăn, nuốt thức ăn trước khi nói, che miệng khi ho, hắt xì hơi + Kỹ năng tự bảo vệ: Không bỏ một số vật lạ, vật cứng vào miệng, tai, mũi, biết đội mũ khi đi ngoài mưa, nắng, không nghịch bẩn, không nhận quà và đi theo người lạ, không nghịch lửả
- + Kỹ năng hợp tác: Biết hợp tác với các bạn trong khi chơi, tham gia hoạt động nhóm với các bạn khi học, vui chơi, lao động + Kỹ năng giao tiếp, ứng xử có văn hóa: chào mẹ, chào cô khi đến lớp, khi ra về, biết nói cám ơn khi nhận được quà hoặc khi nhận được sự giúp đỡ, nói lời xin lỗi khi làm sai, lễ phép với người lớn, xếp hàng và chờ đợi. Thông qua cách làm trên bản thân tôi đã nâng cao được trình độ, tích lũy được nhiều kinh nghiệm và kiến thức cần thiết để rèn luyện cho trẻ một cách tốt nhất, có hiệu quả nhất và phù hợp với trẻ. 3.2. Giải pháp 2: Sưu tầm các bài thơ, bài hát, ca dao, đồng dao, trò chơi dân gian, câu chuyện, video clip để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Nhận thức được tầm quan trọng của những bài thơ, câu chuyện, ca dao, đồng dao, trò chơi dân gian đối với trẻ 3 - 4 tuổi là không nhỏ đối với việc rèn kỹ năng sống cho trẻ nên tôi đã sưu tầm những bài thơ, câu chuyện, ca dao, đồng dao, trò chơi dân gian có nội dung rõ ràng, dễ hiểu, dễ thuộc, có lời văn trong sáng, vui tươi, phù hợp với việc rèn các kỹ năng sống cho trẻ mà tôi đã đề ra. Ví dụ: Tôi sử dụng các bài đồng dao: “Lộn cầu vồng”,”Rồng rắn lên mây” hay trò chơi “Tay đẹp”, “Buổi sáng” hay bài hát “Bé ngoan”...để gây hứng thú cho trẻ, lôi cuốn trẻ vào các hoạt động rèn kỹ năng sống. Đến giờ ăn tôi cũng đã sưu tầm một số bài thơ ngắn dễ nhớ, dễ thuộc để dạy cho trẻ qua đó nhắc nhở trẻ thực hiện các kỹ năng cần thiết. Ví dụ: Trước khi vào giờ ăn tôi cho trẻ đọc các bài thơ: Giờ ăn hay trên bàn ăn qua đó giáo dục trẻ có kĩ năng mời ăn, kĩ năng ngồi ngay ngắn khi ăn, kĩ năng cầm thìa giữ bát đúng cách và ăn không làm rơi vãi cơm ra bàn . “Đến giờ ăn cơm Vào bàn bạn nhé Nào thìa bát đĩa Xúc cho gọn gàng Chớ có vội vàng Cơm rơi cơm vãi” Để việc giáo dục kỹ năng sống gây hứng thú và đạt hiệu quả cao hơn cho trẻ tôi đã tìm và sử dụng các đoạn video clip ngắn, có hình ảnh ngộ nghĩnh, hấp dẫn, ngôn ngữ giản dị, trong sáng, hóm hỉnh, gần gũi để giúp trẻ rất dễ tiếp thu lại có thể nhớ lâu. Mỗi một câu chuyện là một bài học hay, có ý nghĩa chuyển tải những thông điệp có giá trị, giúp trẻ có được những kỹ năng sống quý báu. Ảnh minh chứng 2 Bên cạnh việc sử dụng các bài ca dao, đồng dao, bài thơ bài hát có sẵn sưu tầm được tôi đã sử dụng công nghệ chát JPT và công nghệ AI, CANVA,
- SUNO sáng tác các bài thơ, bài hát mới lạ hay các hình ảnh video, clip theo nội dung kĩ năng cần dạy cho trẻ, qua đó trẻ cảm nhận được sự mới lạ của giai điệu, giúp trẻ hứng thú hơn không bị nhàm chán và đạt kết quả cao hơn khi tiếp nhận các kiến thức, kĩ năng từ giáo viên. Ví dụ: Khi dạy trẻ kĩ năng gập cất quần áo gọn gàng tôi có bài thơ Tập gấp quần áo: “Gấp quần áo ngay ngắn Để trong tủ gọn gàng Áo khoác, quần dài, giày dép Cất đúng phòng bé ơi Gập đôi áo, gấp đôi quần Làm thật nhanh, thật khéo Mẹ vui cười, ba cũng khen Con là bé ngoan, con giỏi lắm” Qua giải pháp này, trẻ lớp tôi rất hào hứng, thích thú tham gia hát, đọc thơ, đồng dao, chơi các trò chơi dân gian và xem các đoạn video clip do tôi sưu tầm hoặc sáng tác, sáng tạo nên. Do đó, trẻ học hỏi được rất nhiều kỹ năng sống cần thiết và hình thành được rất nhiều thói quen tốt. 3.3. Giải pháp 3: Xây dựng môi trường lớp học, làm đồ dùng, đồ chơi sáng tạo để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Lứa tuổi mầm non “Trẻ học mà chơi, chơi mà học” thông qua chơi để trẻ lĩnh hội kiến thức. Vì vậy, việc tạo cơ hội cho trẻ được học tập, vui chơi trong môi trường thân thiện, trẻ sẽ phát triển toàn diện về thể chất, nhận thức thẩm mỹ và đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc rèn kỹ năng sống cho trẻ. Đầu năm học, nhà trường đã phát động cuộc thi “Xây dựng môi trường học tập lấy trẻ làm trung tâm”. Chính vì vậy, tôi đã lên kế hoạch để thiết kế môi trường lớp tôi với tiêu chí thân thiện, gần gũi với đầy đủ các góc chơi, trong các góc được bố trí đồ dùng, đồ chơi sáng tạo, hấp dẫn, sắp xếp gọn gàng, hợp lý và an toàn đối với trẻ. Ở các góc chơi, tôi đều dán các bảng hướng dẫn nội quy góc chơi bằng hình ảnh để qua đó trẻ sẽ hiểu được luật chơi và giáo dục trẻ cất đồ dùng, đồ chơi sau khi chơi xong. Đối với góc thực hành kỹ năng sống tôi đã kê giá và sắp xếp bộ giáo cụ chuẩn phục vụ cho việc rèn trẻ kỹ năng vận động tinh như: xúc hột, hạt và rót khô, kỹ năng tự phục vụ: cài, cởi cúc áo, kéo khóa áo...Những sản phẩm và hình ảnh tôi thay đổi thường xuyên theo tháng để phù hợp với kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mà tôi đã để ra.
- Đối với góc bán hàng tôi cũng thường xuyên thay đổi và làm đồ dùng, đồ chơi mô phỏng: Quần áo, giày dép, hoa quả, bánh, hộp quà cũng như mua một số đồ thật như hoa quả, bánh kẹo, quần áo để rèn trẻ các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng vận động tinh. Góc tạo hình tôi bố trí giá để đồ dùng phục vụ cho việc hoạt động góc cũng như hoạt động tạo hình của trẻ như: Bút sáp, màu nước, phấn, ruy băng... sát tường, có kích cỡ, chiều cao phù hợp với tất cả trẻ để trẻ tự lấy và cất được dễ dàng, thuận tiện. Ở góc chơi này trẻ cũng học được kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng hợp tác. Góc văn học tôi làm sách tranh về các kỹ năng tôi sẽ dạy trẻ và tôi cũng sưu tầm thêm các bài thơ, câu chuyện kèm ảnh minh họa về kỹ năng sống. Bên cạnh đó, tôi còn trang trí đệm, gối, gấu bông, rối que, rối tay...để trẻ hứng thú, thoải mái vừa học, vừa chơi. Từ đó, trẻ sẽ hào hứng tham gia và sẽ tiếp thu một cách dễ dàng các kỹ năng trong sách tranh. Ở góc chơi này trẻ học được kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng phát triển sự tự tin, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng hợp tác. Góc xây dựng: tôi sắp xếp những hộp đựng đồ dùng, đồ chơi để trẻ dễ dàng hoạt động và tạo cho trẻ thói quen lấy và cất dồ dùng, đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp sau khi chơi xong. Ở góc chơi này trẻ học được kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự bảo vệ. Góc âm nhạc tôi đã thiết kế sân khấu và nhiều đồ dùng âm nhạc để lôi cuốn trẻ hứng thú tham gia, giúp cho trẻ mạnh dạn, tự tin hơn. Ở góc chơi này trẻ học được kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng phát triển sự tự tin, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giao tiếp. Ảnh minh chứng 3 Trong khu nhà vệ sinh tôi luôn đảm bảo sạch sẽ, khô ráo, thuận tiện, an toàn cho trẻ. Và được trang bị đầy đủ các đồ dùng phục vụ cho trẻ như: Bồn cầu cho nam, nữ riêng, bồn rửa tay, vòi xịt, xà phòng, khăn lau tay, dép, giá dể dép. Phía trước bồn rửa tay tôi dán quy trình hướng dẫn trẻ rửa từng bước một để giúp trẻ dễ dàng quan sát và thực hiện kỹ năng rửa tay cho đúng. Tủ đựng đồ dùng cá nhân của trẻ được đặt sát tường, có đủ cho mỗi trẻ một ngăn. Tôi đã dán tên và ảnh của trẻ ở mỗi ngăn để trẻ dễ dàng nhận ra ngăn tủ của mình và trẻ sẽ tự lấy, cất đồ dùng của mình mỗi khi đến lớp và khi ra về. Tủ cốc của trẻ dán ký hiệu riêng để trẻ có thể tự lấy cốc uống nước, xúc miệng nước muối. Hình ảnh minh chứng 4 Sau khi áp dụng giải pháp này môi trường học tập của lớp tôi được xây dựng gọn gàng, sạch sẽ, phù hợp, đảm bảo an toàn cho trẻ.
- Đồ dùng, đồ chơi, phương tiện giảng dạy phục vụ cho hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ và rèn các kỹ năng sống cho trẻ đầy đủ, đẹp, phong phú, hấp dẫn. Kỹ năng xây dựng môi trường học tập phục vụ cho các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ và rèn kỹ năng sống cho trẻ của tôi được nâng cao. Với giải pháp này, đã gây hứng thú tạo tinh thần thoải mái cho trẻ khi tới trường, tới lớp được vui vẻ. Trẻ rất hứng thú khi tham gia các hoạt động trong lớp và trẻ có thể lấy, cất và sử dụng đồ chơi dễ dàng, thuận tiện. 3.4. Giải pháp 4: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động trong một ngày. Thời gian trẻ ở lớp là rất dài và trẻ được trải qua mọi hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như giáo dục trong một ngày. Vì vậy, tôi thấy việc rèn kỹ năng sống cho trẻ thông qua chế độ sinh hoạt trong một ngày ở trường là rất cần thiết và vô cùng quan trọng. Giờ đón trẻ Qua giờ đón trẻ, tôi, hướng dẫn, nhắc nhở trẻ để giáo dục cho trẻ kỹ năng giao tiếp, ứng xử tốt như khoanh tay trước ngực chảo hỏi lễ phép với bố mẹ và cô giáo, cởi dép, cất dép và cất đồ dùng cá nhân đúng nơi quy định. Trò chuyện với trẻ khi trẻ đã vào lớp để kích thích trẻ tham gia giao tiếp, đưa ra các câu hỏi để hỏi trẻ giúp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Thế dục sáng: Qua giờ thể dục sáng tôi rèn trẻ các kỹ năng chăm sóc bản thân như: tự lấy và cất dép, biết xếp hàng lần lượt, không xô đẩy nhau để đi ra sân tập thể dục và khi đi vào lớp. Hoạt động học: Đây là hoạt động chính diễn ra trong ngày. Chính vì vậy, tôi đã lồng nội dung giáo dục kỹ năng sống như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phát triển sự tự tin, kỹ năng hợp tác, kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng tự phục vụ vào các môn học nhằm hình thành cho trẻ những thói quen tốt, hành vi có văn hóa Ví dụ: Qua câu chuyện “Bài học cảm ơn và xin lỗi của Gấu con” tôi giáo dục trẻ kỹ năng giao tiếp, ứng xử văn minh như: Biết nhận lỗi và nói lời xin lỗi khi mình làm sai và biết nói lời cảm ơn chân tình khi được người khác giúp đỡ mình. Khi dạy trẻ khám phá “Quả trứng” tôi đã cho trẻ thực hành các vận động tinh như cầm quả trứng và tự bóc vỏ bỏ vào đĩa, trẻ biết lau tay, lau bàn khi bị bẩn. Trẻ tự tin, hợp tác và làm việc nhóm hiệu quả.
- Khi cho trẻ tham gia hoạt động tạo hình trang trí bức tranh “Bạn trai, bạn gái” tôi không chỉ cho cá nhân trẻ làm mà tôi còn tổ chức cho nhóm trẻ cùng nhau làm chung. Qua hoạt động đó tôi muốn giáo dục trẻ biết cách hợp tác, đoàn kết, chia sẻ giúp trẻ tự tin, mạnh dạn trong giao tiếp. Ảnh minh chứng 5 Hoạt động ngoài trời - hoạt động giao lưu - hoạt động lao động Trong các hoạt động này tôi có thể rèn trẻ các kỹ năng như: Kỹ năng tự phục vụ: lấy và cất đồ dùng phục vụ cho hoạt động, nhặt rác vào thùng rác, nhặt lá cây. Dạy trẻ biết xếp hàng để chờ đến lượt mình chơi, không chen lấn, xô đẩy, biết nhường nhịn, đoàn kết, biết chia sẻ đồ chơi với các bạn. Dạy trẻ biết bảo vệ và giữ gìn môi trường xanh- sạch- đẹp, biết giữ gìn vệ sinh thân thể sạch sẽ. Ngoài ra, tôi xây dựng kế hoạch để mỗi tháng trẻ được giao lưu với các bạn trong khối hoặc các anh chị của các lớp khác trong trường thông qua các trò chơi dân gian, văn nghệ khuyến khích trẻ tham gia một cách chủ động, tự giác từ đó trẻ sẽ phát huy được khả năng giao tiếp, sự tự tin và kỹ năng hợp tác của trẻ. Ảnh minh chứng 6 Hoạt động góc Trong hoạt động vui chơi trẻ được thực hành trải nghiệm với những vai chơi khác nhau phản ánh cuộc sống của người lớn nên tôi đã tiến hành lồng việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ như kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng hợp tác, kỹ năng phát triển sự tự tin. Qua đó, trẻ được giao tiếp với nhau bằng những lời nói nhỏ nhẹ, ân cần, lễ phép, biết nói lời cảm ơn khi nhận được giúp đỡ, biết nhận lỗi và xin lỗi khi làm sai, biết trao nhận bằng hai tay, biết xếp hàng chờ đến lượt của mình, biết giữ gìn đồ dùng, đồ chơi, sản phẩm của mình, của bạn, biết hợp tác với các bạn trong khi chơi. Ảnh minh chứng 7 Hoạt động ăn: Đây là một trong những hoạt động phải giữ vệ sinh nhiều nhất vì vậy qua giờ ăn tôi sẽ rèn trẻ các kỹ năng chăm sóc bản thân như: Kê bàn, rửa tay, lau mặt, lấy cốc uống nước, xúc miệng nước muối, tự bê và cất ghế, kỹ năng vận động tinh: Trẻ biết cầm thìa xúc khéo léo để không làm đổ cơm canh, kỹ năng giao tiếp như: Mời cô, mời bạn trước khi ăn, kỹ năng ăn uống có văn hóa như: nhặt cơm rơi, cơm vãi vào đĩa và lau tay vào khăn, biết nhai nhẹ nhàng, không phát ra tiếng, ăn hết suất, khi ăn phải ngồi ngay ngắn, khi ho hay hắt xì hơi phải che miệng để cơm không bắn ra ngoài. Ảnh minh chứng 8
- Hoạt động ngủ Giờ ngủ là hoạt động chiếm nhiều thời gian nhất trong ngày. Qua giờ ngủ, tôi tạo cho trẻ có thói quen lấy và cất gối, trải chiếu, cất chiếu giúp cô. Ngoài ra, vào những ngày mùa đông trẻ thường mặc áo khoác thì tôi lại có thể rèn trẻ có kỹ năng chăm sóc bản thân như cởi áo, gấp áo, cất vào tủ của mình, và biết mặc áo vào khi ngủ dậy, biết nằm với tư thế thoải mải để có một giấc ngủ ngon và không nói chuyện trong khi ngủ. Giờ hoạt động chiều Hoạt động chiều là hoạt động chính để tổ chức rèn luyện các kỹ năng nói chung, đặc biệt là các kĩ năng tự phục vụ. Qua các buổi hoạt động chiều này, tôi đã lên kế hoạch và hướng dẫn trẻ một cách tỉ mỉ, cẩn thận, kỹ càng từng bước một, từng thao tác để hình thành cho trẻ các kỹ năng cần thiết để trẻ áp dụng vào cuộc sống cũng như mọi hoạt động khi ở trường. Bên cạnh đó, tôi cũng dạy trẻ một số kỹ năng sống thông qua các bài thơ, câu chuyện, các video có hình ảnh giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Ảnh minh chứng 9 Giờ trả trẻ: Giờ trả trẻ tôi cũng lồng ghép rèn trẻ các kỹ năng như: lấy đồ dùng cá nhân của mình, lấy dép và đi vào chân, chào hỏi bố mẹ, cô giáo. Ngoài ra, tôi cũng trao đổi với phụ huynh về các kỹ năng tôi đang dạy trẻ, các bước thực hiện để các phụ huynh nắm được và tiếp tục rèn trẻ khi ở nhà. Thông qua ngày lễ, ngày hội, hoạt động trải nghiệm Tết Lễ hội là một phần không thể thiếu trong sinh hoạt của trẻ nhỏ, là một trong những hoạt động giáo dục hấp dẫn. Việc tổ chức lễ hội được coi là một trong những phương tiện giáo dục nhiều mặt cho trẻ ở trường mầm non trong đó bao gồm cả giáo dục kỹ năng sống. Trẻ được tham gia các hoạt động trong buổi lễ hội, trẻ có cơ hội chia sẻ ý tưởng, hợp tác vào các hoạt động có ý nghĩa, được sáng tạo, điều này giúp trẻ tự tin vào bản thân, mạnh dạn hơn trong giao tiếp. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động trải nghiệm Tết, tôi đã giáo dục trẻ kỹ năng tự phục vụ như: lấy dép, xếp hàng lần lượt ra sân, tìm ghế ngồi, kỹ năng giao tiếp, hợp tác, kỹ năng phát triển sự tự tin thông qua hoạt động giao lưu với các cô, các bạn lớp khác, kỹ năng tự bảo vệ bản thân như phải xếp hàng đi theo hàng bám vào áo bạn, không tách khỏi hàng, không đi theo người lạ. Ảnh minh chứng 10 Qua giải pháp này, trẻ lớp tôi được rèn luyện ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoạt động do đó hình thành được rất nhiều các thói quen tốt và thường xuyên. Trẻ dần

