SKKN Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc - Nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non - Trần Thị Phương

pdf 66 trang Anh Túc 25/09/2026 60
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "SKKN Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc - Nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non - Trần Thị Phương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfskkn_bien_phap_chi_dao_nang_cao_chat_luong_cham_soc_nuoi_duo.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc - Nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non - Trần Thị Phương

  1. ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON CHÂU SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non” Lĩnh vực: Quản lý Tên Tác giả: Trần Thị Phương Đơn vị công tác: Trường Mầm non Châu Sơn Chức vụ: Phó hiệu trưởng Năm 2025
  2. 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng xét duyệt sáng kiến trường mầm non Châu Sơn; Hội đồng sáng kiến huyện Ba Vì Trình độ Ngày tháng Nơi công tác Chức Họ và tên chuyên Tên sáng kiến năm sinh danh môn Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng Trần Thị Trường MN Phó hiệu 02/08/1989 Cử nhân chăm sóc, nuôi dưỡng Phương Châu Sơn trưởng trẻ trong trường mầm non. - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực quản lý - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: Biện pháp chỉ đạo nâng cao cao chất lượng chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Từ tháng 9/2024 tại trường Mầm non Châu Sơn. - Mô tả bản chất của sáng kiến: Biện pháp chỉ đạo để nâng cao chất lượng chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. Sáng kiến trình bày theo đúng thể thức văn bản khoa học. Kết cấu sáng kiến gồm 3 phần (Đặt vấn đề, nội dung sáng kiến, kiến nghị, đề xuất). Sáng kiến đã đưa ra các giải pháp cụ thể góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. Sáng kiến gồm 7 giải pháp chính đó là: 1. Nâng cao nhận thức và bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên và nhân viên nội dung về chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ 2. Đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ 3. Xây dựng thực đơn nâng cao chất lượng bữa ăn và dinh dưỡng hợp lý 4. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ 5. Chỉ đạo giáo viên, nhân viên thực hiện các biện pháp đảm bảo VSATTP cho trẻ 6. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát 7. Tăng cường công tác phối hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng
  3. 3 - Những thông tin cần bảo mật: Không có - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Thời gian, giáo viên, nhân viên nhiệt tình trong công tác, có tinh thần cầu thị. Phụ huynh nhiệt tình phối hợp với nhà trường trong công tác chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: * Đối với giáo viên, nhân viên: Đội ngũ giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng được nâng cao kiến thức về dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua các buổi tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn. Nhân viên bếp ăn thực hiện đúng quy trình chế biến, bảo quản thực phẩm, đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn. Giáo viên quan tâm hơn đến chế độ ăn uống của từng trẻ, kịp thời phát hiện trẻ biếng ăn, chậm tăng cân để phối hợp với phụ huynh có biện pháp điều chỉnh phù hợp * Đối với trẻ: Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi, thừa cân, béo phì giảm đáng kể so với đầu năm học. Tình trạng trẻ biếng ăn, kén ăn giảm rõ rệt do bữa ăn tại trường được xây dựng đa dạng, thực phẩm cân đối về lượng, đạt về chất, đáp ứng đầy đủ năng lượng cần thiết, phù hợp với khẩu vị của trẻ. Trẻ được đảm bảo an toàn do nhà trường thực hiện nghiêm túc các quy trình đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử: Góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ trong nhà trường. Phụ huynh yên tâm gửi con tại trường Có khả năng ứng dụng trong phạm vi các trường, cách làm phù hợp với thực tiễn của địa phương và có tính lan tỏa rộng rãi trong xã hội. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Châu Sơn, ngày 20 tháng 03 năm 2025 Người yêu cầu (Ký và ghi rõ họ tên) Trần Thị Phương
  4. 4 Mẫu 03 TRƯỜNG MN CHÂU SƠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HĐSK MN CHÂU SƠN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Châu Sơn, ngày 20 tháng 03 năm 2025 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ - Tên sáng kiến: “Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non ” - Tác giả sáng kiến: Trần Thị Phương - Họ tên người đánh giả: Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ - Cơ quan công tác: Trường mầm non Châu Sơn Nhận xét 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: (Nhận xét về tính mới và nêu rõ tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể, rõ ràng cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): 45 điểm. 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm Sáng kiến thể hiện rõ tính mới, sáng tạo. Có giải pháp cải tiến so với phương pháp cũ, có tính ứng dụng cao và phù hợp với điều kiện hiện tại. Cách thức thực hiện được trình bày chi tiết, dễ hiểu và có thể áp dụng trong thực tế. Điểm đánh giá: 19 điểm 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ (như có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp ): 5 điểm Sáng kiến đã phân tích rõ ràng những điểm khác biệt so với giải pháp cũ và giải pháp mới, có những số liệu khảo sát cụ thể trước và sau khi áp dụng, có so sánh đối chứng kết quả đầy đủ chi tiết, rõ ràng. Điểm đánh giá: 4,5 điểm 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo, hiệu quả (nêu rõ kết quả, hiệu quả khi áp dụng cách làm, giải pháp mới ): 20 điểm Giải pháp mới được trình bày chi tiết, có tính logic và dễ dàng triển khai. Sáng kiến có sự phân tích kỹ lưỡng về tính sáng tạo, thể hiện sự cải tiến. Điểm đánh giá: 16 điểm 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng (Nhận xét mức độ thực hiện và khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng ngành, lĩnh vực hoặc rộng rãi cho nhiều ngành, địa phương trong thực tế đạt hiệu quả): 30 điểm. 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước (khi chưa áp dụng nội dung sáng kiến) và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp
  5. 5 mới: 10 điểm. Sáng kiến đã đưa ra các số liệu cụ thể để chứng minh tính hiệu quả, bao gồm các chỉ số trước và sau khi thực hiện. Những số liệu này góp phần khẳng định tính thực tiễn của giải pháp. Điểm đánh giá: 9.5 điểm. 2.2. Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. Sáng kiến có khả năng nhân rộng ra các đơn vị khác trong cùng lĩnh vực. Phương pháp triển khai đơn giản giúp tăng tính ứng dụng và phổ biến của sáng kiến trong thực tế. Điểm đánh giá: 16 điểm 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến (Nhận xét sáng kiến đó đã được số đông thừa nhận và đã mang lại hiệu quả cụ thể cho cơ quan, tổ chức như: Nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính - sự nghiệp, hiệu quả kinh tế hoặc lợi ích xã hội, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả công tác): 20 điểm Các giải pháp có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có thể ứng dụng rộng rãi đối với giáo viên công tác tại các trường mầm non, góp phần nâng cao chất lượng làm việc và tạo động lực cho cán bộ, giáo viên, nhân viên. Điểm đánh giá: 15 điểm 4. Nội dung 4. Về hình thức (Nhận xét cách trình bày khoa học, đầy đủ, bố cục logic): 5 điểm. Sáng kiến được trình bày khoa học, bố cục rõ ràng và hợp lý. Nội dung mạch lạc, dễ hiểu, đảm bảo tính logic trong từng phần, đúng thể thức văn bản, văn phong phù hợp. Điểm đánh giá: 5 điểm Tổng số điểm sáng kiến: 85 điểm Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt phải đạt 70 điểm trở lên) - Đạt  - Không đạt □ Người đánh giá (Họ, tên và chữ ký) Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ
  6. 6 MỤC LỤC TT Nội dung Số trang I ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến 2 Mục tiêu của sáng kiến Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu II NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1 Hiện trạng vấn đề 2 Giải pháp thực hiện sáng kiến 2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức và bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên và nhân viên nội dung về chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ 2.2 Biện pháp 2 : Đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ 2.3 Biện pháp 3: Chỉ đạo nhân viên xây dựng thực đơn nâng cao chất lượng bữa ăn và dinh dưỡng hợp lý 2.4 Biện pháp 4: Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ 2.5 Biện pháp 5. Chỉ đạo giáo viên, nhân viên thực hiện các biện pháp đảm bảo VSATTP cho trẻ. 2.6 Biện pháp 6. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát 2.7 Biện pháp 7. Tăng cường công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường . 3 Kêt quả sau khi áp dụng sáng kiện tại nhà trường 4 Hiệu quả của sáng kiến 5 Tính khả thi của sáng kiến 6 Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến 7 Kinh phí thực hiện sáng kiến III KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
  7. 7 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến 1.1. Cơ sở lý luận Chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non đóng vai trò cốt lõi, quyết định đến sự phát triển thể chất, trí tuệ và hình thành nhân cách của trẻ. Luật Giáo dục năm 2019 (Điều 23) đã khẳng định: “Giáo dục mầm non nhằm phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp một. Giai đoạn 0-6 tuổi là “thời kỳ vàng” của sự phát triển. Nếu trẻ được chăm sóc, nuôi dưỡng đúng cách với chế độ dinh dưỡng hợp lý, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường khoa học, trẻ sẽ phát triển khỏe mạnh, hình thành thói quen sinh hoạt tích cực. Ngược lại, nếu công tác chăm sóc chưa đảm bảo, sức khỏe và khả năng học tập của trẻ có thể bị ảnh hưởng lâu dài. Vì vậy, nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng không chỉ dừng lại ở việc xây dựng thực đơn đủ chất mà còn phải gắn với tổ chức bữa ăn khoa học, rèn luyện nề nếp sinh hoạt và bồi dưỡng đội ngũ nuôi dưỡng có chuyên môn. Đây là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục mầm non và tạo nền tảng phát triển bền vững cho trẻ. 1.2. Cơ sở thực tiễn Trường Mầm non Châu Sơn, nơi tôi công tác, là một trường nhỏ, tập trung tại một điểm, thuận lợi cho công tác quản lý. Bếp ăn bán trú của nhà trường mới được xây dựng khang trang theo quy trình một chiều, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Nhà trường đã sử dụng phần mềm Godkid để tính khẩu phần ăn, thực đơn được xây dựng theo mùa, đảm bảo đầy đủ bốn nhóm thực phẩm, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ. Trong năm qua, nhà trường đặc biệt chú trọng đến công tác chăm sóc - nuôi dưỡng, nhờ đó chất lượng chăm sóc trẻ đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, yêu cầu của phụ huynh và xã hội đối với công tác này ngày càng cao. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo dinh dưỡng và an toàn thực phẩm mà còn cần hướng đến chế độ ăn uống khoa học, cân đối kết hợp với sinh hoạt và vận động hợp lý, đồng thời tạo dựng môi trường chăm sóc an toàn, lành mạnh nhất cho trẻ. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường vẫn còn một số khó khăn, hạn chế. Thực đơn chưa thực sự phong phú, hấp dẫn, chưa kích thích trẻ ăn ngon miệng. Kỹ năng tổ chức bữa ăn của giáo viên và nhân viên nuôi dưỡng chưa đồng đều, ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ trẻ. Nhà trường chưa có các thiết bị hiện đại để kiểm soát an toàn thực phẩm, việc kiểm tra thực phẩm
  8. 8 chủ yếu vẫn dựa vào cảm quan. Một bộ phận phụ huynh đi làm xa, ít có thời gian quan tâm đến con, khiến việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong công tác chăm sóc - nuôi dưỡng gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, do kinh phí hạn hẹp, đồ dùng phục vụ bán trú chưa được Inox hóa hoàn toàn, nhà trường cũng chưa có thiết bị hiện đại hỗ trợ quá trình sơ chế, chế biến thực phẩm. Là một cán bộ quản lý, tôi nhận thấy rằng việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ không chỉ giúp cải thiện sức khỏe, thể chất cho trẻ mà còn góp phần nâng cao uy tín của nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non theo hướng toàn diện. Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi lựa chọn đề tài “Biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non”, với mong muốn đưa ra những giải pháp thiết thực, hiệu quả nhằm cải thiện công tác chăm sóc trẻ, đảm bảo trẻ được phát triển khỏe mạnh, toàn diện, tạo nền tảng vững chắc cho tương lai. 2. Mục tiêu của sáng kiến kinh nghiệm. Nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ trong nhà trường nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe trẻ đồng thời đổi mới phương pháp tổ chức chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ. Tăng cường bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường Đẩy mạnh sự phối hợp giữa nhàtrường và gia đình tạo môi trường chăm sóc- nuôi dưỡng tốt nhất cho trẻ 3. Thời gian, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. * Thời gian: Từ tháng 9/2024: Đọc tài liệu, tìm hiểu vấn đề, khảo sát thực trạng. Từ tháng 10/2024 đến tháng 3/2024: Áp dụng biện pháp vào thực tế. Tháng 3/2024: Tổng kết kinh nghiệm, viết báo cáo. * Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ trong tường mầm non. * Đối tượng khảo sát: 24 đồng chí giáo viên, 6 nhân viên nuôi dưỡng, 213 trẻ trường Mầm non Châu Sơn. * Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu tại trường Mầm non Châu Sơn trong năm học 2024- 2025, rút kinh nghiệm để thực hiện cho các năm tiếp theo II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng của vấn đề. 1.1. Đặc điểm tình hình Trường mầm non nơi tôi công tác là ngôi trường nhỏ, nằm sát với dân, cơ sở vật chất tương đối đầy đủ phục vụ công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ.
  9. 9 Toàn trường có 9 phòng học kiên cố dành cho 9 nhóm lớp, diện tích bình quân các phòng học là 74m2, có sân chơi, có cây cho bóng mát. Nhà trường có bếp ăn bán trú rộng 200m2 khang trang, sạch sẽ xây dựng theo quy trình bếp 1 chiều,được trang bị các thiết bị hiện như bếp điện, tủ cơm điện, tủ sấy bát, hấp khăn, máy hút mùi.. phục vụ công tác bán trú; Bếp có hệ thống lưới chắn cồn trùng thực hiện các biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm .Tổng số học sinh 213 trẻ, số trẻ mẫu giáo là: 155 trẻ, nhà trẻ là 58 trẻ. 100% trẻ ăn bán trú tại trường. Nhà trường có tổng số 38 cán bộ, giáo viên, nhân viên. Trong đó có 3 cán bộ quản lý, 11 nhân viên và 24 giáo viên, trong đó có 6 đồng chí nhân viên nuôi dưỡng 6/6 đồng chí nhân viên nuôi dưỡng đều có trình độ trên chuẩn. 1.2. Cách làm cũ trước khi thực hiện đề tài 1.2.1. Về Cơ sở vật chất Một số dụng cụ bếp như xoong, nồi, rổ chưa được inox hóa. Thiếu các thiết bị hiện đại phục vụ chế biến thực phẩm như: máy làm sữa chua, caramen, máy xay sinh tố, máy ép hoa quả, máy làm bánh Việc kiểm tra an toàn thực phẩm chủ yếu bằng cảm quan, chưa có thiết bị kiểm soát hóa chất tồn dư trong thực phẩm. Cửa sổ và cửa ra vào bằng kính trắng chưa có rèm, ảnh hưởng đến giấc ngủ trưa của trẻ. 1.2.2. Xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn Nhà trường chỉ đạo tổ nuôi phối hợp với y tế và kế toán để xây dựng thực đơn cho trẻ theo mùa và theo tuần. Tuy nhiên, trong thực đơn giữa tuần chẵn và tuần lẻ có sự trùng lặp món ăn; nhiều bữa chính chiều của nhà trẻ lại trùng với bữa phụ chiều mẫu giáo. Thực đơn hiện tại vẫn chưa sử dụng nhiều món xào cho trẻ. Việc áp dụng thực đơn khuân mẫu ít có sự linh hoạt và thay đổi để phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng và tình hình thực tế của trẻ. Bên cạnh đó, thực đơn chủ yếu gồm những món ăn cũ và truyền thống, thiếu sự đổi mới. Nhà trường đã sử dụng phần mềm Godkid để tính khẩu phần ăn hàng ngày. Tuy nhiên, nhân viên kế toán còn hạn chế về công nghệ thông tin và kiến thức nuôi dưỡng, cộng với mức ăn thấp, dẫn đến việc tính khẩu phần chỉ đạt lượng calo chung chung mà chưa cân đối các chất dinh dưỡng. Việc này chưa chú trọng đến tỷ lệ giữa chất đạm động vật và thực vật, béo động vật và béo thực vật, cũng như các vi chất như canxi (Ca) và sắt (Fe). 1.2.3. Về hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ Nhà trường vẫn áp dụng phương pháp, hình thức tổ chức ăn truyền thống chia khẩu phần ăn đồng đều cho tất cả các trẻ; Nhiều giáo viên vẫn có tâm lý sợ trẻ đói nên ép trẻ ăn hoặc ngồi bón cho trẻ ăn
  10. 10 1.2.4. Công tác giám sát: Hàng năm nhà trường kiện toàn tổ giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm theo năm học gồm Ban giám hiệu, giáo viên, nhân viên và đại diện ban đại diện cha mẹ học sinh. Tổ giám sát có nhiệm vụ giám sát các điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại bếp ăn bán trú và công tác tổ chức ăn tại các nhóm lớp. Tổ giám sát mới chỉ giám sát theo kế hoạch chưa thực hiện được thường xuyên, hạn chế trong việc giám sát đột xuất. Trong công tác giám sát chưa có công cụ giám sát hiện đại như hệ thống Camera và màn hình chiếu công khai để tất cả phụ huynh được biết. 1.3.Phân tích nhược điểm của cách làm cũ 1.3.1. Về cơ sở vật chất Một số trang thiết bị, đồ dùng chưa được Inox hóa, gây nguy cơ nhiễm kim loại vào thực phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ. Máy móc hiện đại thiếu, dẫn đến khó khăn trong việc bổ sung các món ăn phong phú và đa dạng vào thực đơn bữa phụ như sữa chua, caramen, bánh... khiến việc chế biến bữa phụ kém đa dạng, làm trẻ thiếu hứng thú với bữa ăn. Hiện tại, việc kiểm tra thực phẩm chủ yếu bằng cảm quan, điều này tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm hoặc không kiểm soát được lượng hóa chất còn tồn dư trong thực phẩm, gây hại cho sức khỏe của trẻ. Cửa sổ và cửa ra vào chưa có rèm, gây ảnh hưởng đến giấc ngủ của trẻ vào buổi trưa. 1.3.2. Về xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn của trẻ Thực đơn có sự lặp lại, chủ yếu là các món ăn cũ, gây cảm giác nhàm chán và làm trẻ mất hứng thú với bữa ăn, dẫn đến tình trạng chán ăn. Việc tính toán khẩu phần ăn chưa chú trọng đến lượng calo từng bữa, tỷ lệ các chất dinh dưỡng và vi chất cần thiết, từ đó dẫn đến việc bữa ăn không đầy đủ và không cân đối, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ. 1.3.3. Về hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ Thường xuyên áp dụng hình thức tổ chức ăn cũ gây nhàm chán cho trẻ không kích thích hứng thú trẻ tham gia bữa ăn; Chia khẩu phần ăn đồng đều không phù hợp với nhu cầu ăn của từng trẻ. Trẻ ăn ít hay nhiều vẫn nhận khẩu phần ăn như nhau dẫn đến tình trạng có trẻ ăn không hết có trẻ ăn chưa đủ. Giáo viên bón cho trẻ khiến trẻ thiếu đi kỹ năng tự lập ảnh hưởng đến kỹ năng tự lập sau này; trẻ ăn kém bị ép ăn dẫn đến tâm lý sợ ăn và không muốn đi học. 1.3.4. Công tác giám sát Do thiếu giám sát đột xuất nên vẫn có thể có sai sót trong quá trình sơ chế, chế biến, bảo quản thực phẩm không được phát hiện kịp thời. Một số phụ huynh tham gia giám sát chưa phát huy hết vai trò chưa có ý kiến góp ý cho bữa ăn của trẻ; Việc giám sát bằng hình thức thủ công tốn thời gian và vẫn có thể sảy ra sai sót.
  11. 11 1.4. Số liệu khảo sát đầu năm Số lượng khảo sát: 24 giáo viên, 6 nhân viên, 213 trẻ học tại trường mầm non Châu Sơn . (Phục lục 1: Phụ lục bảng khảo sát đầu năm - Phần minh chứng) Qua bảng khảo sát tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của 213 trẻ cho thấy đa số các em có cân nặng và chiều cao bình thường, với tỷ lệ lần lượt là 93,8% và 96,2%. Tuy nhiên, vẫn còn 3,8% trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và 3,8% trẻ thấp còi. Cùng với đó, 2,4% trẻ thừa cân, béo phì, cho thấy vấn đề cân bằng dinh dưỡng cần được quan tâm để giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, thấp còi vàhạn chế nguy cơ béo phì từ sớm. Đáng chú ý, tỷ lệ trẻ bị sâu răng lên đến 15,4%, cao hơn hẳn so với các chỉ số sức khỏe khác. Điều này phản ánh tình trạng vệ sinh răng miệng của trẻ chưa được đảm bảo đúng mức. Ngoài ra, 3,8% trẻ mắc các bệnh mãn tính khác, đòi hỏi sự theo dõi và chăm sóc y tế thường xuyên. Đối với bảng khảo sát 24 giáo viên và 6 nhân viên cho thấy có những điểm mạnh nhưng cũng tồn tại nhiều vấn đề cần khắc phục. Chỉ có 50% giáo viên có kiến thức cơ bản về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), 66,6% giáo viên phối hợp tốt với phụ huynh trong chăm sóc - giáo dục trẻ, đồng thời 75% giáo viên biết cách lồng ghép nội dung chăm sóc - nuôi dưỡng vào hoạt động hằng ngày. Đối với nhân viên, 83,3% có hiểu biết về vệ sinh an toàn thực phẩm. Các kỹ năng khác như lựa chọn thực phẩm, vệ sinh khi sơ chế, chế biến hay chấp hành quy định trang phục có tỷ lệ đạt chuẩn 66,6%, cho thấy vẫn còn một bộ phận nhân viên chưa tuân thủ chặt chẽ các quy định. Đặc biệt, chỉ 33,3% giáo viên biết cách nhập thực đơn và tính khẩu phần ăn trên phần mềm Gokid, cho thấy việc ứng dụng công nghệ của nhân viên còn hạn chế. Từ những nhược điểm về công tác chăm sóc nuôi dưỡng và kết quả khảo sát trên Tôi đã đưa ra các giải pháp sau để nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non Châu Sơn. 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến 2.1. Biện pháp 1. Nâng cao nhận thức và bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên và nhân viên nội dung về chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ. Trong trường mầm non, giáo viên và đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng cho trẻ. Nếu giáo viên cần có kiến thức về tâm lý và giáo dục trẻ, thì nhân viên nuôi dưỡng phải nắm vững kỹ thuật chế biến thực phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và xây dựng thực đơn hợp lý. Việc bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho cả hai nhóm đối tượng này là rất cần thiết, nhằm đảm bảo trẻ được chăm sóc và nuôi dưỡng trong
  12. 12 điều kiện tốt nhất, hạn chế các nguy cơ về sức khỏe, đặc biệt là suy dinh dưỡng và bệnh lây nhiễm. Ngay từ đầu năm học, tôi đã tham mưu nhà trường xây dựng kế hoạch các chuyên đề bồi dưỡng cho giáo viên và nhân viên như: chuyên đề bồi dưỡng kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), chuyên đề bồi dưỡng kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ và chuyên đề bồi dưỡng kỹ năng xử lý hóc sặc, sơ cấp cứu ban đầu cho toàn thể cán bộ, giáo viên và nhân viên. Những chuyên đề này giúp giáo viên và nhân viên nắm bắt các kiến thức cơ bản về vệ sinh an toàn thực phẩm, cách phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ, và kỹ năng sơ cấp cứu ban đầu khi trẻ gặp phải sự cố như hóc, sặc, bỏng, hoặc cháy máu. Đối với nội dung bồi dưỡng kiến thức về VSATTP, tôi tập trung vào việc hướng dẫn giáo viên và nhân viên về các văn bản quy phạm liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm, các khái niệm cơ bản về an toàn thực phẩm và ngộ độc thực phẩm, trách nhiệm của nhà trường, và các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra, tôi cũng đề cập đến một số tồn tại trong công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và các giải pháp để thực hiện tốt công tác này. Hình thức bồi dưỡng sẽ bao gồm học lý thuyết tập trung, tổ chức vào tháng 8/2024. Chuyên đề về kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích và kỹ năng xử lý hóc sặc sẽ được phân công cho nhân viên y tế phối hợp với Ban Giám Hiệu (BGH) xây dựng nội dung và bồi dưỡng cho giáo viên và nhân viên. Hình ảnh 1: Cán bộ, giáo viên, nhân viên tham gia chuyên đề VSATTP Đối với giáo viên, tôi tập trung bồi dưỡng kiến thức về dinh dưỡng mầm non, cách hướng dẫn trẻ thói quen ăn uống khoa học, vệ sinh cá nhân, kỹ năng theo dõi sức khỏe trẻ, và cách chấm biểu đồ. Tôi cũng hướng dẫn giáo viên cách lồng ghép nội dung chăm sóc nuôi dưỡng vào các hoạt động hàng ngày của trẻ thông qua việc trao đổi chuyên môn trong quá trình dự giờ và thăm lớp, cũng như các buổi sinh hoạt chuyên môn định kỳ. Đối với nhân viên nuôi dưỡng, tôi tổ chức các buổi tập huấn về quy trình chế biến thực phẩm an toàn, cách lựa chọn thực phẩm tươi sạch, cách xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn trên phần mềm Godkid, cùng với việc cân đối khẩu phần ăn theo lứa tuổi và bảo quản thực phẩm đúng cách. Tôi cũng hướng dẫn cách phòng tránh lây nhiễm chéo, giám sát thực phẩm trước và sau chế biến, thông qua việc sinh hoạt chuyên môn và trao đổi trực tiếp. Đồng thời, tôi cũng sưu tầm các video hướng dẫn sử dụng phần mềm Godkid để nhân viên tham khảo. Ngoài ra, căn cứ theo công văn tập huấn của cấp trên, tôi đã chủ động phân công giáo viên và nhân viên tham gia các buổi tập huấn chuyên đề về chăm sóc nuôi dưỡng để cập nhật kiến thức mới. Vào tháng 7/2024, toàn bộ nhân viên nuôi
  13. 13 dưỡng tham gia chuyên đề bồi dưỡng về an toàn, an ninh trường học; nâng cao kỹ thuật chế biến thức ăn do Phòng giáo dục và Đào tạo Ba Vì tổ chức. Tháng 11/2024, nhân viên tham gia chuyên đề về nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn và đổi mới thực đơn do Sở Giáo dục tổ chức tại trường mầm non Vạn Thắng. Bên cạnh đó Tôi tổ chức chuyên đề cấp trường để bồi dưỡng cho đội ngũ nhân viên nấu ăn như chuyên đề hướng dẫn cách xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn trên phần mềm Gokid được tổ chức vào tháng 10/2024, chuyên đề Nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn và đổi mới thực đơn cho trẻ mầm non tổ chức tháng 12/2024. Hình ảnh 2: Nhân viên tham gia chuyên đề Tôi cũng chỉ đạo Tổ trưởng tổ nuôi tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn đúng quy định tại thông tư 52/2020/TT-BGDĐT. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn này, tôi lồng ghép các nội dung bồi dưỡng chuyên môn để các đồng chí cùng nhau thảo luận và chia sẻ kiến thức, nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ. Ví dụ: tháng 9, các đồng chí sẽ bồi dưỡng và chia sẻ cách tính khẩu phần ăn trên phần mềm Godkid; tháng 10 thảo luận về các hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ; tháng 12, chia sẻ cách làm một số loại bánh; tháng 1, 2 sẽ thảo luận về cách đổi mới xây dựng thực đơn và nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ; và tháng 3 sẽ thảo luận về những loại thực phẩm không nên kết hợp với nhau. Hình ảnh 3: Tổ nuôi sinh hoạt chuyên môn hàng tháng Với thời đại 4.0, việc tìm kiếm và tra cứu thông tin trên các trang mạng, diễn đàn rất hữu ích và tiết kiệm thời gian. Chính vì thế, tôi đã hướng dẫn giáo viên và nhân viên truy cập vào trang fanpage của ngành giáo dục, của trường, cùng các đường link và video hướng dẫn để tự học và bồi dưỡng thêm kiến thức. Các trang web như: moet.gov.vn, mamnon.com, mamnonchauson.edu.vn, viendinhduong.vn, aliveandthrive.org.vn. ..là những nguồn tài liệu bổ ích giúp giáo viên, nhân viên có thêm nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Một hình thức bồi dưỡng rất hiệu quả là thông qua hội thi "Nhân viên nuôi dưỡng giỏi" cấp trường và cấp huyện. Đối với hội thi cấp trường, tôi yêu cầu 100% nhân viên tham gia. Mỗi nhân viên phải xây dựng thực đơn, tính khẩu phần ăn, và thực hành các món ăn mà các đồng chí xây dựng. Các thực đơn dự thi không trùng với thực đơn nhà trường đang thực hiện. Sau hội thi, ngân hàng thực đơn mẫu của nhà trường sẽ bổ sung thêm món ăn mới, áp dụng cho thực đơn của trẻ. Nhân viên sẽ có cơ hội giao lưu và học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp trong trường. Đối với hội thi cấp huyện, tôi yêu cầu tất cả nhân viên tham gia, học hỏi thêm các món ăn mới và cách chế biến,bày biện món ăn sao cho đẹp mắt gây hứng thú cho trẻ. Như vậy nhân viên được bồi dưỡng chuyên môn từ đồng nghiệp trong trường và các đồng nghiệp của trường bạn.
  14. 14 Kết quả: Sau quá trình bồi dưỡng, chất lượng chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ trong trường đã được nâng cao rõ rệt. Giáo viên áp dụng tốt phương pháp giáo dục dinh dưỡng, hướng dẫn trẻ ăn uống khoa học và vệ sinh cá nhân đúng cách. Nhân viên nuôi dưỡng thực hiện tốt quy trình chế biến thực phẩm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giúp trẻ có bữa ăn ngon miệng và đầy đủ dinh dưỡng. Đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên nuôi dưỡng ngày càng chuyên nghiệp hơn, góp phần tạo nên môi trường giáo dục an toàn, khoa học và chất lượng cho trẻ phát triển toàn diện. 100% nhân viên biết xây dựng thực đơn và tính khẩu phần trên phần mềm Godkid . Trong hội thi "Nhân viên nuôi dưỡng giỏi" cấp huyện, trường mầm non Châu Sơn có 2 đồng chí đạt giải nhì cấp huyện và đứng thứ 4 toàn huyện. 2.2. Biện pháp 2. Đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ Để phù hợp với tình hình thực tế hiện nay nhằm kích thích trẻ hứng thú tham gia hoạt động ăn tại trường, tạo cơ hội rèn kỹ năng tự phục vụ của trẻ Tôi tham mưu nhà trường chỉ đạo giáo viên và nhân viên đổi mới hình thức tổ chức ăn cho trẻ nhưng vẫn cần đảm bảo nguyên tắc: Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, cân đối các chất dinh dưỡng và công bằng với mọi trẻ trong hoạt động ăn. Tổ chức ăn tự chọn ( Tiệc Buffe) giúp trẻ làm quen với hình thức ăn mới, biết tên các món ăn mới, rèn kỹ năng tự phục vụ ăn theo nhu cầu, sở thích, tạo thói quen văn minh xếp hàng và lấy đồ ăn theo đúng nhu cầu; Giúp trẻ lựa chọn, sử dụng dụng cụ ăn phù hợp với hình thức tự chọn. Với hình thức này nhà trường tổ chức trong các ngày hội, ngày lễ của trường ; tổ chức 2 lần/năm học; Khi tổ chức cho trẻ ăn giáo viên lớp cho trẻ đi thăm quan bày bàn thức ăn,cho trẻ quan sát, giới thiệu các món ăn, trò chuyện với trẻ về kỹ năng, các nguyên tắc ăn, cách lấy đồ ăn văn minh khi ăn tự chọn. Khi kết thúc hoạt động ăn cô và trẻ cùng thu xếp, sắp xếp đồ dùng dụng cụ rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Hình ảnh: Trẻ ăn theo hình thức tự chọn (Tiệc Buffee) Tổ chức bữa ăn gia đình tạo không khí ăn tại lớp ấm cúng như gia đình, rèn cho trẻ kỹ năng sử dụng đồ dùng trong gia đình, biết sử dụng đồ dùng dễ vỡ như bát sứ, đĩa sứ, biết cách cùng với cô và các bạn bày bàn ăn cho bữa ăn gia đình. Đối với hình thức tổ chức bữa ăn gia đình trường Tôi chỉ áp dụng cho trẻ 4-5 tuổi và 5-6 tuổi. Mỗi tháng tổ chức cho mỗi lớp ăn 1 tuần giúp trẻ thành thục các kỹ năng. Thời gian áp dụng từ tháng 12/2024 .Tôi phân công lịch tổ chức cụ thể cho các lớp để giáo viên và nhân viên chủ động khi tổ chức bữa cơm gia đình cho trẻ. Hình ảnh: Tổ chức bữa cơm gia đình cho trẻ Tổ chức ăn bằng khay: Rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ, tạo thói quen xếp hàng lấy khay ăn và chuẩn bị cho trẻ tâm thế sẵn sang vào lớp 1. Đối với hình thức
  15. 15 ăn bằng khay Tôi tổ chức cho trẻ 4-5 tuổi, 5-6 tuổi. Căn cứ vào tình hình thực tế cơ sở vật chất của nhà trường nên chúng tôi xây dựng kế hoạch mỗi lớp 1 ngày/ tuần. Hình ảnh: Tổ chức cho trẻ ăn cơm bằng khay Kết quả: Sau khi áp dụng biện pháp trẻ có kỹ năng tự phục vụ trong hoạt động bán trú tại trường, trẻ ăn đa dạng thực phẩm và thích thú khi ăn cơm tại trường. Giáo viên linh hoạt trong việc tổ chức hình thức ăn cho trẻ. 2.3. Biện pháp 3: Chỉ đạo nhân viên xây dựng thực đơn nâng cao chất lượng bữa ăn và dinh dưỡng hợp lý Là phó hiệu trưởng phụ trách công tác nuôi dưỡng, tôi nhận thức sâu sắc rằng dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ mầm non. Một chế độ ăn uống khoa học, đầy đủ dưỡng chất không chỉ giúp trẻ khỏe mạnh, hạn chế suy dinh dưỡng, béo phì mà còn góp phần hình thành thói quen ăn uống lành mạnh ngay từ nhỏ. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng bữa ăn và chế độ dinh dưỡng cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng mà tôi tập trung chỉ đạo thực hiện. Trước tiên, tôi phối hợp với cán bộ y tế và nhân viên nuôi dưỡng để xây dựng thực đơn khoa học, đảm bảo đầy đủ bốn nhóm chất dinh dưỡng: tinh bột, đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất. Thực đơn được xây dựng theo mùa, đa dạng món ăn, giúp trẻ không bị nhàm chán và đồng thời cung cấp đủ năng lượng phù hợp với nhu cầu của từng lứa tuổi.Đối với trẻ nhà trẻ nhu cầu năng lượng cần cung cấp tại trường 600-651kcal, đối với trẻ mẫu giáo nhu cầu năng lượng cung cấp tại trường 615 - 726 Kcal . Trong quá trình xây dựng thực đơn, tôi chỉ đạo nhân viên tạo ra thực đơn riêng biệt cho trẻ nhà trẻ và mẫu giáo, bảo đảm theo nguyên tắc cân đối dinh dưỡng, phù hợp với độ tuổi và khẩu vị của trẻ. Tỷ lệ các chất cung cấp năng lượng được khuyến nghị như sau: Đối với trẻ nhà trẻ P: 13-20; L: 30- 40; G: 47-50, đối với trẻ mẫu giáo P: 13-20, L: 25-35,G: 52-60.Thực đơn được tăng cường rau xanh, quả chín, sữa và các chế phẩm từ sữa, đặc biệt là tận dụng các thực phẩm sẵn có tại địa phương. Hình ảnh: Thực đơn của trẻ năm học 2024- 2025 Khi xây dựng thực đơn Tôi chỉ đạo nhân viên thay đổi và đổi mới những món ăn trong thực đơn trước đây chưa phù hợp, món ăn cũ, đổi mới món ăn chính, bổ sung thêm món xào hàng ngày, bổ sung thêm hoa quả vào các bữa ăn của trẻ, đổi mới bữa chính chiều cho trẻ nhà trẻ để trẻ hứng thú vào bữa ăn dinh dưỡng tại nhà trường cụ thể Đổi mới món ăn chính: Thay vì sử dụng món ăn cũ như thịt kho trứng cút, thịt bò hầm khoai tây cà rốt, thịt gà xào hành tây, cà rốt; Thịt đậu sốt cà chua chúng tôi thay bằng món: Thịt trứng sốt chua ngọt, Trứng hấp củ quả, thịt bò lúc lắc, Xíu
  16. 16 mại gà; Thịt, đậu, Tôm sốt nấm; Cá sốt ngũ liễu; Bổ sung các món canh mới như: Canh nấm đậu phụ, canh bầu riêu tôm Đa dạng món xào cho trẻ: Khoai môn đảo muối vừng, Rau cải ngọt sốt nấm kim châm, Bầu cà rốt xào hành thơm; Bí xanh xào ngô bao tử, bí xanh nấm hương xào thịt ;Súp lơ, ngô non xào thịt, , Đổi mới bữa chính chiều của trẻ nhà trẻ: Trước đây bữa chính chiều của trẻ chủ yếu cơm, cháo hoặc mỳ . Hiện nay, chúng Tôi bổ sung một số món bánh cho trẻ: Bánh giò, bánh bí, bánh bao nhân đậu xanh, bánh bao bí đỏ thập cẩm, xôi chim bồ câu, súp thịt bò khoai tây/ súp gà ngô non và món cháo mơi như Cháo ngan khìa nước dừa, cháo chim bồ câu hạt sen ..Các món ăn này ngoài sử dụng bữa chính chiều cho trẻ còn dùng làm bữa phụ chiều cho trẻ mẫu giáo; Hàng tháng, vào mỗi cuộc họp hội đồng sư phạm nhà trường Tôi đều lấy ý kiến từ giáo viên để điều chỉnh thực đơn phù hợp với khẩu vị của trẻ. Bên cạnh đó, tôi cùng 1 đồng chí nhân viên nấu chính tuần đó thường xuyên đi dự giờ ăn của trẻ để năm bắt trẻ ăn như thế nào? Từ đó có sự điều chỉnh thực đơn cho phù hợp. Ngoài ra, chỉ đạo nhân viên bếp chú trọng vào cách chế biến và trình bày món ăn, đảm bảo món ăn không chỉ ngon miệng mà còn đẹp mắt, kích thích sự thèm ăn của trẻ. Minh chứng: Hình ảnh một số món ăn của trẻ Để thực đơn của trẻ thêm phong phú và đa dạng hơn, tôi đã tham mưu nhà trường bổ sung thêm một số loại máy hỗ trợ nhân viên trong quá trình chế biến thực phẩm như máy ép hoa quả, máy xay sinh tố, máy đánh bột làm bánh. Việc này giúp nhân viên chế biến được nhiều món ăn mới đa dạngvà bổ sung thêm các món như nước ép hoa quả, sinh tố, bánh bao cho thực đơn của trẻ. Kết quả: Sau thời gian triển khai, tôi nhận thấy thực đơn của nhà trường đa dạng hơn, chất lượng bữa ăn tại trường được cải thiện rõ rệt. Trẻ ăn ngon miệng hơn, tỷ lệ suy dinh dưỡng và thừa cân giảm đáng kể. Phụ huynh cũng yên tâm, tin tưởng hơn vào chế độ dinh dưỡng của con tại trường. Quan trọng nhất, trẻ hình thành thói quen ăn uống khoa học, đa dạng biết lựa chọn thực phẩm có lợi cho sức khỏe. Những kết quả này là động lực để tôi tiếp tục duy trì và hoàn thiện hơn nữa công tác chăm sóc – nuôi dưỡng trẻ, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện tại nhà trường. 2.4. Biện pháp 4: Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ Sức khỏe là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển toàn diện của trẻ mầm non. Một môi trường học tập an toàn, lành mạnh không chỉ giúp trẻ phát triển thể chất tốt mà còn tạo điều kiện để trẻ vui chơi, học tập hiệu quả. Tuy nhiên, trẻ ở lứa tuổi mầm non có sức đề kháng còn non yếu, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm theo mùa. Bên cạnh đó, một số trẻ có thói quen vệ sinh chưa tốt, chưa biết cách tự bảo
  17. 17 vệ sức khỏe. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng mà tôi tập trung chỉ đạo thực hiện. Trước tiên, tôi phối hợp với cán bộ y tế nhà trường xây dựng kế hoạch khám sức khỏe định kỳ cho trẻ 2 lần trong năm học; Nhà trường phối hợp trung tâm y tế huyện Ba Vì khám sức khỏe cho trẻ lần 1 vào tháng 11 hoặc tháng 12. Đối với trẻ dưới 36 tháng tuổi đo chiều cao, cân nặng; Đối với trẻ từ 36 tháng tuổi trở lên đo chiều cao, cân nặng, huyết áp, nhịp tim và thị lực của trẻ. Các chỉ số về cân nặng, chiều cao, thể trạng được cập nhật thường xuyên để phát hiện sớm các trường hợp suy dinh dưỡng, thừa cân hoặc có dấu hiệu bệnh lý bất thường. Khám sức khỏe lần 2 vào khoảng tháng 3 hoặc tháng 4 do đồng chí nhân viên y tế nhà trường khám. Ngoài ra chỉ đạo nhân viên y tế theo dõi tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Đối với trẻ dưới 24 tháng đo chiều cao, cân nặng, ghi biểu đồ tăng trưởng mỗi tháng 1 lần nhằm phát hiện sớm suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thể thấp còi hoặc thừa cân béo phì. Trẻ từ 24 tháng tuổi trở lên đo chiều cao cân năng, ghi biểu đồ tăng trưởng mỗi quý 1 lần. Riêng trẻ từ 60 tháng theo dõi chỉ số BMI. Đối với trẻ có vấn đề về sức khỏe, nhà trường sẽ thông báo kịp thời cho phụ huynh và có biện pháp can thiệp phù hợp. Tôi cũng chỉ đạo nhân viên y tế viết các bài tuyên truyền, truyền thông tư vấn dinh dưỡng, sức khỏe, cách phòng chống bệnh tật, chế độ ăn uống khoa học, Cách chăm sóc sức khỏe trẻ cho phụ huynh, giúp gia đình và nhà trường phối hợp chặt chẽ trong việc chăm sóc trẻ. Các bài truyền thông được đưa lên trang Website, Zalo các nhóm lớp, bảng cha mẹ bé cùng biết để tuyên truyền đến phụ huynh. Ngoài ra Tôi ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác chăm sóc sức khỏe, y tế trường học bằng cách Tôi tạo mã QR- code trong đó có các bài truyền thông về chăm sóc sức khỏe, nuôi con khoa học, kết quả cân đo, khám sức khỏe định kỳ của trẻ; thực đơn của trẻ, một số hoạt động của trẻ tại trường; Phụ huynh chỉ cần 1 smart phone quét mã có thể biết các thông tin trên và nắm được các nội dung bài tuyên truyền, truyền thông nhà trường mà không mất nhiều thời gian. Hình ảnh: một số bài truyền thông trên trang Website và bảng tuyên truyền Bên cạnh đó, tôi đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ. Chỉ đạo giáo viên hướng dẫn trẻ thực hiện đúng quy trình rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, che miệng khi ho, hắt hơi Mỗi lớp học đều được trang bị đầy đủ xà phòng rửa tay, khăn mặt riêng cho từng trẻ để hạn chế lây nhiễm bệnh. Hàng ngày các lớp đều ngâm cốc bằng nước nóng, hấp khăn cho trẻ để phòng tránh các bệnh truyền nhiễm. Chỉ đạo các lớp cuối tuần tổng vệ sinh, ngâm rửa đồ dùng bằng CloraminB. Định kỳ, tôi cùng với đồng chí nhân viên y tế kiểm
  18. 18 tra việc vệ sinh lớp học, khu vực bếp ăn, nhà vệ sinh để đảm bảo môi trường sạch sẽ, an toàn. Kết quả khám sức khỏe đầu năm cho thấy tỷ lệ trẻ bị sâu răng chiếm tỷ lệ khá cao. Tình trạng sâu răng không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng mà còn khiến trẻ biếng ăn, dẫn đến suy dinh dưỡng và sức khỏe tổng thể kém. Nhằm cải thiện tình trạng này, tôi đã sưu tầm một số video về chăm sóc răng miệng để giáo viên cho trẻ xem, đồng thời tìm kiếm các bài thơ về vệ sinh răng miệng và vệ sinh cá nhân để đưa vào hoạt động giảng dạy. Tôi cũng chỉ đạo giáo viên áp dụng các biện pháp giáo dục trẻ giữ gìn răng miệng, hướng dẫn cách đánh răng đúng cách và phối hợp với phụ huynh để duy trì thói quen đánh răng thường xuyên tại nhà.Ngoài ra, 100% nhóm lớp được yêu cầu cho trẻ súc miệng bằng nước muối pha loãng 0,9% sau mỗi bữa ăn. Để đảm bảo hiệu quả, giáo viên hướng dẫn trẻ cách súc miệng đúng cách như sau:  Ngậm một ngụm nước muối vừa đủ, súc từng bên má trong khoảng 30 - 40 giây để làm sạch khoang miệng.  Nhổ bỏ nước muối đã súc, sau đó ngậm thêm một ngụm khác để súc họng, giúp nước muối tiếp xúc với phần sâu nhất của họng.  Cuối cùng, nhổ bỏ nước muối và súc miệng lại bằng nước lọc. Việc thực hiện các biện pháp trên không chỉ giúp giảm tỷ lệ sâu răng ở trẻ mà còn nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh răng miệng, góp phần cải thiện sức khỏe và chất lượng dinh dưỡng cho trẻ tại trường. Công tác phòng chống dịch bệnh cũng được tôi đặc biệt quan tâm. Vào những thời điểm giao mùa, khi dịch bệnh có nguy cơ bùng phát, tôi chỉ đạo tăng cường vệ sinh khử khuẩn lớp học, đồ dùng cá nhân của trẻ. Nhà trường phối hợp với y tế địa phương rà soát, tuyên truyền phụ huynh đưa trẻ đến trạm y tế tiêm chủng đầy đủ cho trẻ theo chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia. Khi phát hiện trẻ có dấu hiệu ốm, sốt, nhà trường thực hiện cách ly, theo dõi và thông báo ngay cho phụ huynh để tránh lây lan. Hình ảnh: nhà trường phun thuốc muỗi phòng chống dịch sốt xuất huyết Một nội dung quan trọng khác là nâng cao kỹ năng sơ cứu và xử lý tình huống khẩn cấp cho giáo viên. Tôi tổ chức các buổi tập huấn chuyên đề về sơ cứu trẻ khi bị sốt cao, hóc dị vật, chấn thương trong quá trình vui chơi giúp giáo viên có kỹ năng ứng phó kịp thời, đảm bảo an toàn cho trẻ. Đối với những trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi thừa cân béo phì Tôi chỉ đạo nhân viên y tế tham mưu xây dựng kế hoạch phục hồi đối với trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi,thừa cân, béo phí. Kế hoạch được triển khai tới 100% giáo viên, nhân viên thực hiện các biện pháp phục hồi trẻ . Chỉ đạo giáo viên thông qua các hoạt động hàng
  19. 19 ngày chú trọng đến những trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi thừa cân béo phì. Cụ thể như thông qua giờ ăn cô cho trẻ ngồi ở vị trí dễ quan sát, đối với những trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi cô động viên, nhắc nhở trẻ ăn. Ngoài ra đối với những trẻ ăn chậm, chán ăn cô có thể bón cho trẻ ăn. Những trẻ béo phì thừa cân cô cho trẻ ăn ít cơm, khuyến khích trẻ ăn rau, canh giảm lượng đường, phân công cho trẻ thừa cân béo phì kê bàn ghế, lau bàn để trẻ được tham gia vận động. Tăng cường hoạt động ngoài trời để trẻ được tắm nắng tăng khả năng hấp thụ vitamin D. Trẻ thừa cân béo phì tạo cơ hội trẻ được vận động nhiều hơn, tham gia nhiều vào các trò chơi vận động. Trẻ thấp còi cho trẻ chơi trò chơi đu dây, đu xà. Trẻ suy dinh dưỡng khuyến khích trẻ chơi các trò chơi vận động nhẹ .. Kết quả: Sau thời gian triển khai các biện pháp trên, tôi nhận thấy rõ những kết quả tích cực. Tỷ lệ trẻ mắc bệnh theo mùa giảm đáng kể, ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân của trẻ được nâng cao. Giáo viên tự tin hơn trong việc xử lý các tình huống khẩn cấp, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ trong quá trình học tập và vui chơi tại trường. Phụ huynh yên tâm hơn khi gửi con, tin tưởng vào sự chăm sóc tận tình của nhà trường. Những kết quả này là động lực để tôi tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hơn nữa công tác chăm sóc sức khỏe trẻ, góp phần tạo môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh và phát triển toàn diện cho trẻ mầm non. 2.5. Biện pháp. Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ Vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non là một yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Để đảm bảo an toàn thực phẩm cho trẻ, tôi đã triển khai các biện pháp cụ thể như sau: 2.5.1. Lựa chọn nhà cung ứng thực phẩm Việc lựa chọn nhà cung cấp thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thực phẩm an toàn, tươi sạch cho trẻ mầm non. Ngay từ đầu năm học Tôi tham mưu nhà trường lựa chọn nhà cung cấp thực phẩm đảm bảo các tiêu chí như sau: Giấy tờ pháp lý đầy đủ: Nhà cung cấp phải có giấy phép kinh doanh hợp pháp, chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm do cơ quan chức năng cấp, đồng thời có các kiểm định liên quan đến chất lượng thực phẩm như giấy chứng nhận VietGAP, GlobalGAP (nếu có). Nguồn gốc thực phẩm rõ ràng: Thực phẩm cung cấp vào trường phải có hóa đơn, chứng từ đầy đủ, ghi rõ nguồn gốc xuất xứ. Đối với rau củ, quả lấy từ các công ty, trang trại đạt tiêu chuẩn. Thịt, cá phải có dấu kiểm dịch của cơ quan thú y. Chất lượng thực phẩm đảm bảo: Các loại thực phẩm khi nhập vào trường phải đảm bảo tươi sống, không hóa chất bảo quản, không có dấu hiệu ôi thiu, hư hỏng.
  20. 20 Phương tiện vận chuyển an toàn: Nhà cung cấp phải có phương tiện vận chuyển đạt tiêu chuẩn, đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, thực phẩm không bị nhiễm bẩn trong quá trình di chuyển. Uy tín: Trước khi ký hợp đòng với nhà cung cấp nhà trường tham khảo ý kiến từ các trường mầm non khác đã hợp đồng năm trước để đánh giá mức độ uy tín của nhà cung cấp. 2.5.2. Xây dựng kế hoạch đảm bảo VSATTP Tôi tham mưu nhà trường xây dựng kế hoạch 318/KH-MNCS ngày 11 tháng 9 năm 2024 kế hoạch đảm bảo vệ sinh ATTP trường mầm non năm học 2024- 2025, có phân công nhiệm vụ rõ ràng giữa các bộ phận. Cụ thể: Nhân viên nuôi dưỡng chịu trách nhiệm kiểm tra thực phẩm đầu vào, thực hiện đúng quy trình sơ chế, chế biến và bảo quản thực phẩm. Giáo viên kiểm tra chất lượng bữa ăn trước khi cho trẻ ăn và giám sát quá trình ăn uống của trẻ. Bên cạnh đó, tôi xây dựng phương án số 319/PA-MNCS ngày 11/9/2024 phương án xử lý tình huống sảy ra ngộ độc thực phẩm tại trường học năm học 2024 – 2025 và tổ chức thực hành phương án cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, và học sinh, giúp họ nắm được quy trình xử lý và phản ứng kịp thời khi sự cố mất an toàn thực phẩm xảy ra. 2.5.3.Ban hành nội quy VSATTP Tôi tham mưu nhà trường ban hành nội quy về vệ sinh an toàn thực phẩm cho tất cả giáo viên và nhân viên trong trường để thực hiện. Chỉ đạo giáo viên các nhóm lớp thực hiện tốt công tác vệ sinh cá nhân cho trẻ trước và sau khi ăn, giữ môi trường lớp học luôn thoáng mát và sạch sẽ, đồng thời thực hiện nghiêm túc các quy định về giờ ăn, giờ ngủ cho trẻ. 2.5.4. Chế biến thực phẩm theo quy trình "Bếp một chiều" Nhân viên bếp thực hiện đúng quy trình chế biến thức ăn theo quy tắc "Bếp một chiều" để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Cụ thể: Giao nhận thực phẩm: Nhân viên phụ trách giao nhận thực phẩm phải đảm bảo thực phẩm được giao đúng thời gian, đúng quy trình, đặc biệt đối với các loại thực phẩm tươi sống và thực phẩm khô. Thực phẩm đóng gói :phải có nhãn mác rõ ràng, còn hạn sử dụng và tuân thủ các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm. Thực phẩm tươi sống như rau, củ, quả, thịt, cá phải đảm bảo độ tươi ngon, không có dấu hiệu ôi thiu, hư hỏng. Quy trình nhận thực phẩm cần đảm bảo không để lẫn lộn thực phẩm sống với thực phẩm đã qua chế biến hoặc các loại quả ăn trực tiếp nhằm tránh nguy cơ nhiễm khuẩn chéo.