Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học thể loại truyện ở trường mầm non Châu Sơn - Tô Thị Thủy
Bạn đang xem tài liệu "Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học thể loại truyện ở trường mầm non Châu Sơn - Tô Thị Thủy", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
mot_so_giai_phap_phat_trien_ngon_ngu_cho_tre_5_6_tuoi_thong.doc
Nội dung tài liệu: Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học thể loại truyện ở trường mầm non Châu Sơn - Tô Thị Thủy
- UBND HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON CHÂU SƠN --------- ---------- SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VĂN HỌC THỂ LOẠI TRUYỆN Ở TRƯỜNG MẦM NON CHÂU SƠN Tên tác giả : Tô Thị Thủy Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Châu Sơn Chức vụ : Giáo viên Năm 2025
- 2 MỤC LỤC Nội dung Trang I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến 1.1. Cơ sở lý luận 1.2. Cơ sở thực tiễn 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Thời gian thực hiện đề tài 3.2. Đối tượng nghiên cứu 3.3. Phạm vi nghiên cứu II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trang vấn đề 1.1. Hiện trạng 1.2. Cách làm cũ trước khi thực hiện đề tài 1.3. Nhược điểm của cách làm cũ 1.4. Khảo sát thực tế 1.5. Những vấn đề còn hạn chế 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 2.1. Giải pháp 1: Nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân về đổi mới lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ 2.2. Giải pháp 2: Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ trong lớp học 2.4. Giải pháp 3: Đổi mới hình thức tổ chức kể chuyện qua hoạt động làm quen văn học 2.5. Giải pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động văn học 3. Kết quả sau khi áp dụng biện pháp sáng kiến tại đơn vị 4. Hiệu quả của sáng kiến 4.1. Hiệu quả về khoa học 4.2. Hiệu quả về kinh tế 4.3. Hiệu quả về xã hội 5. Tính khả thi (áp dụng vào thực tiễn công tác của đơn vị) 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiên 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
- 3 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. 1.1. Cơ sở lý luận Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức và giao tiếp hữu hiệu nhất của con người, là công cụ của tư duy. Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có phương tiện để nhận thức và thể hiện nhận thức của mình, để giao tiếp và hợp tác với nhau. Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được những gì diễn ra xung quanh, lĩnh hội được những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống hàng ngày Nói đến sự phát triển của xã hội không thể không nói đến vai trò đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ. Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các hoạt động khoa học khác như: Khám phá, làm quen với toán, âm nhạc, tạo hình đặc biệt thông qua hoạt động làm quen văn học thể loại truyện tạo điều kiện cho trẻ học nhiều, giúp trẻ khả năng phát triển trí nhớ, tư duy và ngôn ngữ, khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp. Qua đó vốn từ của trẻ được mở rộng, trẻ làm quen với cách dùng từ, cách đặt câu, cách diễn đạt, lời nói có vần, nhịp, nói có ngữ điệu. Trẻ biết trình bày ý kiến, suy nghĩ, kể về một sự vật hay sự kiện nào đó bằng chính ngôn ngữ của trẻ. Với trẻ 5 - 6 tuổi việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là việc làm hết sức quan trọng, tạo tiền đề vững chắc cho trẻ trong việc học đọc, học viết khi vào lớp một. Đồng thời giúp trẻ biết diễn đạt rõ ràng những suy nghĩ và mong muốn của mình với mọi người và thể hiện cảm xúc với thế giới xung quanh. Vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ có hệ thống, có phương pháp phải được tiến hành trong tất cả các hoạt động, đặc biệt qua hoạt động làm quen văn học thể loai truyện. Văn học không chỉ góp phần bồi dưỡng tâm hồn, nâng cao năng lực cảm thụ cái đẹp, tiếp thu dần những tri thức cần thiết trong đời sống mà còn giúp cho trẻ phát triển trí tuệ, mở rộng sự hiểu biết và phát triển toàn diện về nhân cách. Hơn nữa, văn học là nghệ thuật ngôn từ, là hình thức nghệ thuật sử dụng ngôn từ làm chất liệu để tái hiện thế giới, phản ánh thế giới khách quan, giúp trẻ thơ hiểu về cuộc sống muôn màu. Đó là những tri thức về thế giới loài vật, cây cỏ hoa lá, những tri thức về phong tục tập quán, những nét đẹp truyền thống và hiện đại. 1.2. Cơ sở thực tiễn Qua thực tế chủ nhiệm lớp tôi càng nhận thấy ngôn ngữ có một vai trò vô cùng quan trọng đối với trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt , khuyến khích trẻ chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc và ý tưởng của mình với người khác, đồng
- 4 thời giúp trẻ kể lại các câu chuyện đơn giản một cách mạch lạc và có trình tự, phát triển khả năng tư duy logic và sáng tạo. Nhưng trên thực tế, tôi nhận thấy ngôn ngữ của trẻ còn hạn chế, nhiều trẻ nói chưa rõ ràng, vốn từ chưa phong phú, trẻ chưa diễn đạt được mong muốn của bản thân.... chưa thực sự phát huy được tính tích cực của trẻ. Trước thực trạng trên, với vai trò là giáo viên đứng lớp 5 - 6 tuổi tôi luôn trăn trở phải làm gì để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mạch lạc? làm thế nào để những giờ hoạt động làm quen văn học thể loại truyện thực sự cuốn hút và phát huy hết khả năng, tính tích cực của trẻ? Chính vì vậy tôi đã suy nghĩ và đã chọn đề tài: “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học thể loại truyện ở trường mầm non Châu Sơn” với mong muốn giúp trẻ 5 - 6 tuổi có ngôn ngữ phát triển tốt, tự tin để chuẩn bị bước vào lớp 1. 2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến . Thông qua hoạt động làm quen tác phẩm văn học thể loại giúp trẻ tích lũy và mở rộng vốn từ phong phú, đa dạng, giúp trẻ phát âm đúng, nói tốt tiếng việt, diễn đạt rõ ràng, mạnh lạc, tự tin, chủ động trong giao tiếp. Trẻ biết cách ứng xử với mọi người xung quanh và đặc biệt phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Giúp trẻ kể lại các câu chuyện đơn giản một cách mạch lạc và có trình tự. Giúp trẻ kể chuyện dưới nhiều hình thức kể khác nhau, đặt tên cho câu chuyện mình kể. Khuyến khích trẻ chia sẻ suy nghĩ, cảm xúc và ý tưởng của mình với người khác. Khuyến khích trẻ đọc sách thường xuyên để phát triển khả năng ngôn ngữ. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Thời gian thực hiện đề tài Thời gian viết đề tài: Từ tháng 9/2024 – 3/2025 và có thể tiếp tục củng cố và áp dụng vào các năm học sau. 3.2. Đối tượng nghiên cứu Một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học thể loại truyện ở trường mầm non Châu Sơn. 3.3. Phạm vi nghiên cứu 23 trẻ lớp mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi A1 - Trường Mầm non Châu Sơn.
- 5 PHẦN II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng vấn đề. 1.1. Đặc điểm tình hình Năm học 2024 - 2025, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi A1, với tổng số trẻ 23 trẻ. Trẻ nam: 13; Trẻ nữ: 10. Trong quá trình thực hiện tổ chức hoạt động làm quen tác phẩm văn học thông qua truyện kể cho trẻ tôi đã gặp những thuận lợi và khó khăn: * Thuận lợi: Bản thân tôi là một giáo viên trẻ, luôn yêu nghề, mến trẻ, tôi luôn cố gắng học hỏi qua sách, báo, internet, qua đồng nghiệp. Tôi thường xuyên được bồi dưỡng chuyên môn qua các buổi sinh hoạt do trường, khối tổ chức. Được dự các tiết chuyên đề, tiết học các chị em trong trường. Trường đầu tư cơ sở vật chất đầy đủ, đồ dùng, đồ chơi phục vụ giảng dạy, phòng học rộng rãi, thoáng mát, đủ ánh sáng tạo môi trường giáo dục sáng - xanh, sạch - đẹp - an toàn. Ban giám hiệu luôn quan tâm đến chất lượng giáo dục sự phát triển của nhà trường. Trường cũng đã tổ chức các tiết chuyên đề làm quen tác phẩm văn học tại trường để chị em giáo viên chúng tôi được học hỏi và nâng cao trình độ chuyên môn và vận dụng vào trong công tác giảng dạy của mình. Ban giám hiệu và tổ chuyên môn thường xuyên cố vấn cho giáo viên xây dựng môi trường chữ viết, góc thư viện phong phú trong lớp và ngoài khuôn viên lớp. Trẻ đi học đầy đủ có tỉ lệ chuyên cần cao, trẻ nhanh nhẹn và có nề nếp. * Khó khăn: Trong quá trình thực hiện đề tài bản thân tôi còn gặp rất nhiều khó khăn sau: Một số cháu còn chưa mạnh dạn, nhiều cháu còn nói ngọng, nói lắp, nói tiếng địa phương, nhận thức của trẻ không đồng đều. Trong lớp có 1 cháu bị chậm phát triển ngôn ngữ Sĩ số trẻ trong lớp đông phần nào hạn chế giáo viên quan tâm đến cá nhân trẻ, sửa câu từ, ngữ điệu, sửa ngọng, phát triển lời nói, giao lưu cảm xúc trong các hoàn cảnh, ngữ cảnh, tình huống thực tế. Bên cạnh đó một số phụ huynh nghề nghiệp rất bận rộn nên còn số ít phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến con. Đa số phụ huynh đi làm ăn xa và thường có tư tưởng trông chờ vào cô giáo mà không chủ động rèn thêm cho trẻ tại nhà. Ít dành thời gian cho con. Một số phụ huynh học sinh chưa thực sự hợp tác tốt với cô.
- 6 1.2. Cách làm cũ trước khi thực hiện đề tài Trước khi triển khai đề tài về việc làm quen tác phẩm văn học thông qua truyện kể cho trẻ, tôi đã áp dụng một số phương pháp và chiến lược cơ bản trong công tác giảng dạy ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo. Cụ thể, tôi đã tiến hành các hoạt động sau: Dạy trẻ qua các bài thơ, câu chuyện ngắn: Đây là một trong những phương pháp chủ yếu tôi áp dụng để giúp trẻ làm quen với ngôn ngữ. Tôi chọn những bài thơ, câu chuyện dễ hiểu, có hình ảnh sinh động, giúp trẻ phát triển kỹ năng nghe, nói, và hiểu ngữ nghĩa. Việc kể chuyện trực quan với hình ảnh sinh động giúp trẻ dễ tiếp thu và hiểu rõ hơn nội dung câu chuyện. Tổ chức hoạt động nghe và lặp lại: Tôi đã khuyến khích trẻ lặp lại những từ ngữ, câu đơn giản trong các câu chuyện, bài hát, hoặc vần thơ sau khi tôi đọc cho trẻ nghe. Hoạt động này giúp trẻ luyện phát âm và rèn kỹ năng nghe, nói, qua đó nâng cao khả năng giao tiếp và sự tự tin khi diễn đạt suy nghĩ. Tạo môi trường giao tiếp phong phú: Tôi luôn cố gắng tạo ra một môi trường học tập phong phú và đa dạng, nơi trẻ có thể giao tiếp với nhau thông qua các hoạt động nhóm, trò chơi, hoặc các tình huống giao tiếp thực tế. Đây là cách giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tự nhiên thông qua việc học hỏi từ bạn bè và cô giáo. Khuyến khích trẻ thể hiện cảm xúc và suy nghĩ: Tôi đã tạo cơ hội cho trẻ thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của mình qua các trò chơi đóng vai hoặc kể lại câu chuyện theo cách của mình. Điều này không chỉ giúp trẻ phát triển kỹ năng ngôn ngữ mà còn giúp trẻ học cách chia sẻ cảm xúc và suy nghĩ một cách tự nhiên. 1.3. Nhược điểm của cách làm cũ Mặc dù các phương pháp giảng dạy ngôn ngữ mà tôi áp dụng đã phần nào giúp trẻ phát triển kỹ năng ngôn ngữ, nhưng vẫn còn một số nhược điểm mà tôi nhận thấy trong quá trình thực hiện, bao gồm: Khả năng cá nhân hóa chưa cao: Do sĩ số lớp đông, việc cá nhân hóa quá trình giảng dạy gặp nhiều khó khăn. Tôi không thể dành đủ thời gian để sửa lỗi phát âm, ngữ điệu hay phát triển ngôn ngữ cho từng trẻ. Một số trẻ có nhu cầu đặc biệt hoặc chậm phát triển ngôn ngữ chưa được quan tâm đầy đủ. Chưa đủ sự linh hoạt trong phương pháp dạy: Phương pháp dạy chủ yếu tập trung vào việc lặp lại câu chuyện hoặc bài thơ, điều này có thể chưa kích thích được sự sáng tạo và khả năng giao tiếp tự nhiên của trẻ. Việc này không tạo điều kiện cho trẻ phát triển tư duy ngôn ngữ đa dạng và tự do. 1.4. Khảo sát thực tế Thực trạng khảo sát khả năng của trẻ về ngôn ngữ như sau:
- 7 Đạt Chưa đạt Nội dung khảo sát Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ lượng (%) lượng (%) 1. Trẻ hứng thú nghe cô kể chuyện 8 34,8 15 65,2 2. Trẻ có khả năng diễn đạt rõ ràng, mạch 7 30,4 16 69,6 lạc 3. Trẻ mạnh dạn, tự tin, chủ động trong 9 39,1 14 60,9 giao tiếp với cô và các bạn. 4. Trẻ biết thể hiện ngôn ngữ, giọng điệu 5 21,7 18 78,3 khi kể chuyện 1.5. Những vấn đề còn hạn chế Về phía giáo viên: Bản thân tôi mặc dù đã được chuẩn hóa về mặt chuyên môn nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động LQVH mang lại hiệu quả cao đôi khi tôi còn gặp nhiều lúng túng. Về phía trẻ: Phần lớn trẻ lớp tôi chưa thực sự tập trung và chưa có hứng thú khi nghe cô kể chuyện. Vốn từ của trẻ còn hạn chế, nhận thức của trẻ không đồng đều. Nhiều trẻ còn rụt rè, thụ động khi giao tiếp với cô giáo và bạn bè. Về phía phụ huynh: Phụ huynh đi làm ăn xa và thường có tư tưởng trông chờ vào cô giáo mà không chủ động rèn thêm cho trẻ tại nhà. Ít dành thời gian cho con. Một số phụ huynh học sinh chưa thực sự hợp tác tốt với cô. 1.4. Sự cần thiết của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học thể loại truyện. Qua bảng khảo sát, có thể thấy rằng tỉ lệ trẻ chưa đạt ở tất cả các tiêu chí đều cao, đặc biệt là ở kỹ năng thể hiện giọng điệu khi kể chuyện. Kỹ năng giao tiếp và diễn đạt của trẻ còn nhiều hạn chế, đặc biệt là khả năng diễn đạt rõ ràng và tự tin. Qua hiện trạng, số liệu, những hạn chế trên tôi đã nghiên cứu đưa ra các giải
- 8 pháp “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học thể loại truyện ở trường mầm non Châu Sơn” 2. Giải pháp pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề Tên các biện pháp Giải pháp 1: Nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân về đổi mới lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Giải pháp 2: Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ trong lớp học. Giải pháp 3: Đổi mới hình thức tổ chức kể chuyện qua hoạt động làm quen văn học. Giải pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động văn học. Cách thực hiện từng giải pháp: 2.1. Giải pháp 1: Nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân về đổi mới lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Giáo viên mầm non không chỉ là người dạy dỗ mà còn là tấm gương, hình mẫu quan trọng đối với trẻ. Nhận thức được vai trò này, tôi luôn chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân để đổi mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Trước hết, tôi đã tham gia chuyên đề “Tiếp cận học qua chơi và đổi mới hình thức tổ chức giáo dục lĩnh vực phát triển ngôn ngữ” do Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức. Qua đó, tôi nhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với sự phát triển toàn diện của trẻ. Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở việc học tập qua chuyên đề, tôi còn chủ động tự bồi dưỡng bằng cách nghiên cứu thêm về khả năng ngôn ngữ của trẻ, đọc sách, tài liệu tham khảo, tìm hiểu các phương pháp giáo dục mới qua mạng trong thời gian rảnh. Đồng thời, tôi đầu tư thiết kế và làm đồ dùng, đồ chơi sáng tạo, xây dựng các góc học tập trong lớp để trẻ có cơ hội tiếp cận và rèn luyện ngôn ngữ một cách tự nhiên, linh hoạt. (Hình ảnh 1: Tham gia học tập chuyên đề “Lĩnh vực phát triển ngôn ngữ” tại trường MN Tản Hồng) Bên cạnh đó, tôi tận dụng các buổi sinh hoạt chuyên môn để chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp. Tôi thường kể chuyện trước tổ chuyên môn để nhận góp ý về giọng kể, ngữ điệu, cử chỉ, từ đó điều chỉnh và hoàn thiện hơn. Trước mỗi tiết dạy, tôi luôn luyện tập kỹ lưỡng cách kể chuyện, sử dụng tranh ảnh, rối, mô hình để giúp trẻ cảm thụ tốt hơn tác phẩm văn học. Tôi cũng chú trọng rèn luyện cách phát âm chuẩn, giúp trẻ phát triển vốn từ phong phú hơn.
- 9 Đối với những trẻ gặp khó khăn trong phát âm, tôi kiên trì sửa lỗi, đồng thời phối hợp với phụ huynh để hỗ trợ trẻ ngay tại nhà. Ngoài ra, tôi tập trung nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp tổ chức hoạt động làm quen với văn học như: kể chuyện theo tranh, bé tập kể chuyện, đóng kịch, sử dụng đồ chơi để kể chuyện... Những hoạt động này không chỉ tạo hứng thú cho trẻ mà còn giúp các em phát triển ngôn ngữ một cách tự nhiên, sáng tạo và chủ động hơn. Nhờ áp dụng giải pháp này tôi có kiến thức sâu hơn về phương pháp giáo dục ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Áp dụng linh hoạt các hình thức dạy học sáng tạo, giúp trẻ tiếp thu tốt hơn. Tự tin hơn khi thực hiện các hoạt động dạy học, đặc biệt là kể chuyện, đọc diễn cảm và hướng dẫn trẻ phát triển ngôn ngữ. Cải thiện kỹ năng sư phạm và đổi mới phương pháp giảng dạy. Biết cách sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy học như tranh ảnh, mô hình, rối... Tôi không chỉ tự tin hơn trong chuyên môn mà còn góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy, giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách toàn diện, tạo nền tảng vững chắc cho việc học tập sau này. 2.2. Giải pháp 2: Xây dựng môi trường phát triển ngôn ngữ trong lớp học. Môi trường học tập đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Một môi trường phù hợp không chỉ kích thích tư duy mà còn tạo hứng thú cho trẻ khi tham gia các hoạt động học tập. Nhận thức được điều này, ngay từ đầu năm học, tôi đã tập trung xây dựng môi trường lớp học giàu ngôn ngữ, nhằm khơi gợi sự tò mò, giúp trẻ phát triển vốn từ và khả năng giao tiếp. Xây dựng không gian kích thích phát triển ngôn ngữ. Tôi đã tận dụng không gian lớp học để tạo một môi trường học tập hấp dẫn. Khi trang trí lớp, tôi sử dụng hình ảnh các nhân vật trong truyện để tạo điểm nhấn ở góc văn học và một số khu vực khác trong và ngoài lớp. Các bức tranh minh họa truyện cổ tích được thể hiện trên tường, giúp trẻ dễ dàng tiếp cận, quan sát và thảo luận về nội dung câu chuyện. Bên cạnh đó, tôi sưu tầm và bổ sung những bộ truyện tranh ngoài chương trình để làm phong phú thêm nguồn tài liệu học tập. Trẻ được khuyến khích kể lại câu chuyện theo cách hiểu của mình, đóng kịch và sáng tạo nội dung mới dựa trên những gì đã đọc. Điều này giúp trẻ phát triển tư duy sáng tạo, khả năng kể chuyện và sự linh hoạt trong sử dụng ngôn ngữ. Sử dụng học cụ trực quan, sinh động. Ngoài sách truyện, tôi còn tự làm một số đồ dùng trực quan hỗ trợ trẻ phát triển ngôn ngữ như: Rối tay, rối dẹt có bánh xe, có cử động tay chân, giúp trẻ nhập vai và kể chuyện theo cách sinh động.
- 10 Bộ ghép tranh kể chuyện, sử dụng truyện tranh cũ hoặc tranh vẽ của trẻ, giúp trẻ tự do sắp xếp và sáng tạo nội dung. Hình ảnh động vật, nhân vật truyện tranh rời, để trẻ tự chọn và sắp xếp theo ý tưởng của mình khi kể chuyện. Những học cụ này không chỉ làm tăng hứng thú học tập mà còn giúp trẻ rèn luyện khả năng diễn đạt, giao tiếp và tư duy logic. Tạo góc văn học hấp dẫn và thân thiện. Tôi bố trí góc văn học ở nơi yên tĩnh, có nhiều ánh sáng tự nhiên, kèm theo thảm, gối ôm và gấu bông để tạo không gian ấm cúng, thân thiện. Sách truyện được sắp xếp ở vị trí vừa tầm với, giúp trẻ dễ dàng lựa chọn và đọc sách một cách chủ động. Tôi cũng khuyến khích trẻ mang sách từ nhà đến lớp để chia sẻ với bạn bè, đồng thời hướng dẫn trẻ cách mượn sách từ thư viện để đọc cùng gia đình. (Hình ảnh 2: Góc văn học) Trong lớp, tôi tạo môi trường chữ viết bằng cách dán tên các góc chơi, tên đồ vật và sản phẩm của trẻ. Điều này giúp trẻ nhận diện chữ cái một cách tự nhiên và hứng thú hơn khi làm quen với chữ viết. Phát triển kỹ năng đọc và làm quen với chữ cái. Với trẻ 5 - 6 tuổi, việc làm quen với chữ cái là vô cùng quan trọng. Tôi đã thực hiện một số biện pháp để hỗ trợ trẻ tiếp cận ngôn ngữ một cách hiệu quả: Dán bảng chữ cái có hình ảnh minh họa sinh động, giúp trẻ ghi nhớ dễ dàng. Chuẩn bị các bài tập nhận diện chữ cái cho trẻ thực hành trong giờ hoạt động góc. Ứng dụng phương pháp Montessori với các hoạt động như ghép chữ bằng que kem, tìm chữ còn thiếu, viết chữ trên cát, vẽ chữ bằng bút màu... giúp trẻ làm quen với chữ cái một cách tự nhiên và hứng thú (Hình ảnh 3: Góc làm quen chữ viết) Nhờ việc xây dựng môi trường học tập giàu ngôn ngữ, tôi nhận thấy trẻ hứng thú hơn trong các hoạt động kể chuyện, đóng kịch và giao tiếp. Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn khi sử dụng ngôn ngữ để thể hiện suy nghĩ và cảm xúc của mình. Đặc biệt, trẻ rất yêu thích các hoạt động văn học, chủ động tiếp cận sách truyện và có thói quen sử dụng ngôn ngữ phong phú hơn trong giao tiếp hàng ngày. 2.3. Giải pháp 3: Đổi mới hình thức tổ chức kể chuyện qua hoạt động làm quen văn học. Có rất nhiều hình thức tổ chức kể chuyện qua hoạt động làm quen văn học nhưng tôi tâm đắc nhất hình thức tổ chức kể chuyện theo đồ chơi và hình thức tổ chức kể chuyện theo sơ đồ đây là 2 hình thức tôi thấy đổi mới trong học tập chuyên đề “Phát triển ngôn ngữ” trẻ rất hứng thú khi tham gia vào hoạt động văn học với thể loại kể chuyện cụ thể: - Đổi mới hình thức tổ chức kể chuyện theo đồ chơi: Tôi đã lựa chọn một số đồ chơi, đồ vật đẹp, gần gũi có liên quan với nhau, hấp dẫn, lôi cuốn trẻ. Để từ đó cô trò chuyện, đàm thoại gợi hỏi trẻ quan sát đặc điểm nổi bật của đồ chơi,ý
- 11 tưởng kể, mối quan hệ giữa các nhân vật . Tổ chức lần đầu trẻ chưa quen cô có thể kể chuyện mẫu cho trẻ nghe một câu chuyện khác, cho trẻ kể chuyện với đồ chơi. Nếu trẻ gặp khó khăn khi đặt lời kể, cô gợi hỏi trẻ, cho trẻ đặt tên câu chuyện của mình. Ví dụ: Với những chú Thỏ Trắng, Thỏ Đen , Hổ Cô trò chuyện với trẻ với đồ chơi này các con liên tưởng tới câu chuyện gì? Con định kể như thế nào với những đồ chơi này Trẻ kể: “ Vào một ngày đẹp trời, hai chú Thỏ Trắng, Thỏ Đen cùng rủ nhau vào rừng chơi, đi được nửa đường bỗng đâu xuất hiện con Hổ quát: Thỏ kia mày đi đâu?.... Với hình thức kể chuyện này tôi thấy hiệu quả của hoạt động tiến triển rõ, phát huy tối ưu ngôn ngữ cho trẻ, trẻ được nói nhiều, trải nghiệm nhiều qua các đồ chơi đó. - Đổi mới hình thức tổ chức kể chuyện theo sơ đồ: tức là kể chuyện theo dàn ý. Với hình thức kể chuyện này sẽ giúp trẻ tích cực, sáng tạo trong hoạt động kể chuyện, phát triển tư duy loogic ở trẻ Ví dụ: Cho trẻ kể chuyện về chủ đề “Một tuần ở trường mầm non của bé” hoặc “ Một ngày ở trường mầm non của bé” hay “ Bé lớn lên như thế nào”? Nếu trẻ kể chuyện dựa vào sơ đồ sẽ giúp trẻ hiểu tính chu kỳ của thời gian, dần dần giúp trẻ định hướng thời gian tốt hơn. Sau đó tôi trò chuyện, thảo luận với trẻ về kinh nghiệm, hoạt động thực tế để khuyến khích trẻ diễn đạt lại những gì mà chúng đã gặp, đã làm. Cho trẻ vẽ hoặc dán các ký hiệu tượng trưng cho hình ảnh về những kinh nghiệm quan trọng, dễ nhớ theo câu hỏi của trẻ. Tôi cho trẻ tạo sơ đồ câu chuyện bằng cách nối hình, tạo sơ đồ liên kết các kinh nghiệm theo trình tự diễn biến của hoạt động thực tiễn hoặc theo một logic hợp lý. Trẻ kể chuyện theo sơ đồ đã thiết kế, nhận xét câu chuyện của trẻ Sau khi tôi áp dụng 2 hình thức tổ chức kể chuyện này vào hoạt động văn học với các câu chuyện tôi thấy trẻ sôi nổi tham gia vào hoạt động, phát huy tích cực ngôn ngữ- nói cho trẻ. * Ngoài ra còn có hình thức tổ chức cho trẻ kể lại truyện và tập đóng kịch Dạy trẻ kể lại truyện và tập đóng kịch là một nội dung của chương trình làm quen văn học ở trường mầm non. Đây là hoạt động cơ bản giúp trẻ rèn luyện, thực hành, trải nghiệm nghệ thuật nó có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển nhân cách chuẩn bị cho trẻ bước vào trường tiểu học. Để giúp trẻ kể lại và nhớ nội dung truyện một cách tốt nhất, ngoài việc đọc kể cho trẻ nghe, tôi còn ứng dụng thêm công nghệ thông tin vào trong giảng dạy để mang lại kết quả tốt nhất.
- 12 + Hình thức kể lại chuyện theo tranh, theo sa bàn Kể lại chuyện theo tranh Hình thức kể lại truyện theo tranh là một trong những phương pháp phát huy tính sáng tạo, mở rộng ngôn ngữ, đồng thời phát triển khả năng diễn đạt câu chuyện của trẻ. Trẻ không chỉ được nghe kể chuyện mà còn sử dụng trí nhớ để nhớ các nhân vật, lời thoại và nội dung truyện, từ đó kể lại câu chuyện bằng ngôn ngữ của riêng mình. Với hình thức này, tôi sử dụng các quyển truyện tranh có hình ảnh rõ ràng, sống động và nội dung ngắn gọn, dễ hiểu. Bên cạnh đó, tôi còn cho trẻ xem băng truyện để giúp trẻ ghi nhớ nội dung câu chuyện và nhận diện nhân vật. Ví dụ: Câu chuyện "Dê con nhanh trí" Chuẩn bị: Bàn nhỏ, truyện tranh to. Tiến hành: Tôi kể cho trẻ nghe câu chuyện "Dê con nhanh trí", sau đó cho trẻ xem băng truyện và cùng trẻ đàm thoại về các nhân vật, tính cách của các nhân vật trong truyện. Sau khi đã giúp trẻ nắm bắt nội dung câu chuyện, tôi mời trẻ lên kể lại câu chuyện theo các hình ảnh trong truyện tranh, hướng dẫn trẻ chỉ vào từng hình ảnh tương ứng với các nhân vật khi kể, tạo sự liên kết giữa lời kể và hình ảnh. (Hình ảnh 4, 5: Kể truyện theo tranh) Kể lại chuyện theo sa bàn Hình thức kể chuyện theo sa bàn là một phương pháp giúp trẻ không chỉ phát triển ngôn ngữ mà còn kích thích khả năng tư duy sáng tạo và trí tưởng tượng. Với sa bàn, trẻ có thể trực tiếp tham gia vào việc tạo dựng không gian và các tình huống trong câu chuyện. Phương pháp này cũng giúp trẻ tăng cường khả năng quan sát và hiểu rõ hơn về các yếu tố trong câu chuyện. Chuẩn bị: Sa bàn được chuẩn bị trước với các mô hình nhân vật, đồ vật, hoặc các yếu tố đặc trưng của câu chuyện. Ví dụ, trong câu chuyện "Dê con nhanh trí", sa bàn có thể có mô hình của dê con, mẹ dê, và các yếu tố liên quan như cây cối, con đường, hoặc những chi tiết quan trọng trong câu chuyện. Tiến hành: Trẻ sẽ được mời lên để sử dụng sa bàn mô phỏng lại câu chuyện. Tôi sẽ hướng dẫn trẻ sử dụng các mô hình nhân vật để tái hiện các tình huống trong truyện. Trong quá trình kể, trẻ sẽ di chuyển các mô hình nhân vật trên sa bàn sao cho phù hợp với diễn biến câu chuyện. Ví dụ: Khi kể về chú dê con, trẻ có thể di chuyển mô hình dê con từ điểm này sang điểm khác trên sa bàn khi kể về hành trình của dê con. Trẻ cũng có thể sử dụng các mô hình khác như cây cối, nhà cửa để minh họa các tình huống trong câu chuyện.
- 13 Sau khi trẻ kể xong, các bạn trong nhóm có thể nhận xét về cách kể của bạn, đồng thời bổ sung thêm các chi tiết hoặc tình huống trong câu chuyện để làm phong phú hơn câu chuyện. (Hình ảnh 6, 7, 8: Kể truyện theo sa bàn) Lợi ích của việc sử dụng sa bàn: Tăng cường khả năng quan sát và tưởng tượng: Trẻ không chỉ nghe câu chuyện mà còn tham gia trực tiếp vào việc tạo dựng không gian và các tình huống trong câu chuyện. Phát triển khả năng ngôn ngữ: Khi kể chuyện bằng sa bàn, trẻ phải sử dụng ngôn ngữ miêu tả, giải thích và kể lại một cách chi tiết, giúp ngôn ngữ của trẻ được sử dụng linh hoạt hơn. Khả năng hợp tác và làm việc nhóm: Trong khi sử dụng sa bàn, trẻ có thể làm việc cùng nhau để tạo ra các tình huống trong câu chuyện, điều này giúp phát triển khả năng giao tiếp và hợp tác nhóm. Kể chuyện theo tranh và theo sa bàn là hai phương pháp kết hợp rất hiệu quả để phát triển ngôn ngữ, trí nhớ, và sự sáng tạo của trẻ. Cả hai hình thức này đều giúp trẻ chủ động tham gia vào việc kể lại câu chuyện và củng cố những kiến thức và kỹ năng mà trẻ đã học được. + Hình thức kể lại truyện theo rối tay Việc sử dụng rối trong tiết học gây được sự chú ý, tò mò của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ tiếp cận với nghệ thuật múa rối. Ngoài ra, việc sử dụng rối tay khi cho trẻ kể lại truyện không chỉ phát triển ngôn ngữ cho trẻ qua việc kể chuyện mà còn giúp trẻ biết thể hiện các cử chỉ, điệu bộ trong giao tiếp để tăng tính linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả trong giao tiếp. Thời gian đầu khi mới làm quen với rối tay, trẻ rất lóng ngóng, khó thực hiện được các động tác theo ý muốn. Để khắc phục được điều này, tôi đã làm thật nhiều những con rối tay đặt ở góc văn học, sắp xếp sao cho trẻ thấy dễ dàng. Khi hoạt động ở góc văn học, trẻ thoải mái sử dụng rối tay. Ban đầu, trẻ sử dụng rối tay theo ý thích của mình, có khi là dùng rối tay để nói chuyện với bạn, từ đó việc sử dụng rối tay với trẻ trở nên dễ dàng hơn, dần dần, tôi yêu cầu trẻ sử dụng rối tay vào từng câu chuyện. Ví dụ: Với câu chuyện “ba chú lợn nhỏ”, tôi sử dụng mô hình sân khấu là một đầm lầy nhỏ, có hoa, cỏ, cây....nhân vật trong truyện được cách điệu đầu chú thỏ là một quả bóng nhỏ, tôi dùng len móc thành chiếc váy cho chú thỏ thêm ngộ nghĩnh. Khi dạy trẻ kể chuyện bằng rối, trước tiên tôi cũng cung cấp nội dung câu chuyện cho trẻ nghe vào hoạt động chiều, hoạt động góc. Bên cạnh việc cung cấp nội dung truyện cho trẻ, tôi còn hướng dẫn trẻ cách sử dung rối tay, tôi dạy trẻ dùng cánh tay lồng vào con rối, điều khiển con rối bằng 3 ngón
- 14 tay (ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa) sao cho những cử chỉ phù hợp với lời thoại trong truyện. (Hình ảnh 9, 10, 11: Kể truyện bằng rối tay) Nhờ việc sử dụng rối tay trong tiết học mà số trẻ có khả năng cảm thụ văn học đạt cao, đa số trẻ nhớ nội dung truyện, lời thoại của các nhân vật và qua đó, trẻ biết dùng ngôn ngữ của mình để nhận xét đánh giá tính cách của nhân vật trong truyện như: Ai là người xấu, ai là người tốt + Kể chuyện theo trí tưởng tượng của trẻ: Với hình thức kể chuyện theo trí tưởng tượng của trẻ tôi đã tạo hứng thú cho trẻ trước khi vào hoạt động kể chuyện. Cùng trẻ lựa chọn chủ đề, giúp trẻ đưa ra tên truyện, cùng bàn bạc về các nhân vật, các tình huống có thể xảy ra trong câu chuyện. Giúp trẻ xây dựng ý tưởng, nội dung câu chuyện. Tôi xây dựng bố cục, dàn ý, diễn biến câu chuyện. Giúp trẻ thể hiện thái độ, tình cảm của mình vào câu chuyện, khái quát lại nội dung câu chuyện. + Theo con mở đầu câu chuyện sẽ ra sao? + Tiếp theo sẽ như thế nào? + Kết thúc ra sao? Ví dụ: Tôi cho trẻ làm quen với câu truyện: Đôi bạn tốt. Tôi cho trẻ quan sát rối tay nhân vật gà con, vịt con, cáo và hỏi trẻ đây là những nhân vật gì? Theo các con mở đầu câu chuyện này sẽ diễn ra như thế nào? Tôi gọi 3 - 4 trẻ. Chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo? Gọi vài trẻ trả lời. Và kết thúc câu chuyện sẽ như thế nào? Kể chuyện theo trí tưởng tượng giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, ngôn ngữ thông qua các nhân vật trong câu chuyện. Trẻ biết tưởng tượng ra những nhân vật khác làm cho câu chuyện phong phú và hay hơn.Trẻ được kể chuyện theo cách mà trẻ thích, tư duy được phát triển mạnh. 2.5. Giải pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động văn học. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ không chỉ diễn ra trong môi trường lớp học mà còn cần có sự hỗ trợ từ gia đình. Vì vậy, việc phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên - phụ huynh - nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ nâng cao khả năng giao tiếp, mở rộng vốn từ và phát triển kỹ năng diễn đạt. Tạo dựng mối quan hệ gắn kết với phụ huynh. Ngay từ đầu năm học, tôi luôn chủ động xây dựng mối quan hệ thân thiết với phụ huynh để hiểu rõ khả năng ngôn ngữ, tâm lý và đặc điểm cá nhân của từng trẻ. Mỗi ngày, khi đón và trả trẻ, tôi đều trao đổi với phụ huynh về tình hình học tập, sức khỏe của con để cùng tìm ra phương pháp hỗ trợ phù hợp.
- 15 Đối với trẻ phát âm chưa rõ ràng, nói ngọng, tôi gợi ý phụ huynh cho con tiếp xúc với các sách tranh, truyện, thơ nhằm giúp trẻ học cách phát âm chuẩn, đồng thời tạo hứng thú với ngôn ngữ. Tôi khuyến khích phụ huynh dành thời gian trò chuyện, lắng nghe con, điều chỉnh cách phát âm và tốc độ nói để giúp trẻ tiếp thu dễ dàng hơn. Nâng cao nhận thức của phụ huynh về vai trò của văn học. Trong các buổi họp đầu năm, tôi tuyên truyền về tầm quan trọng của hoạt động làm quen với văn học đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Vận động phụ huynh sưu tầm sách, báo, tranh ảnh, truyện thơ phù hợp với từng chủ đề, giúp trẻ tiếp cận với văn học một cách tự nhiên. Hướng dẫn phụ huynh cách giao tiếp với con đúng chuẩn, sử dụng câu nói đầy đủ, ngữ điệu phù hợp với ngữ cảnh. Hàng tuần, tôi chuẩn bị các câu chuyện và gửi về để phụ huynh đọc cho trẻ nghe, hình thành thói quen nghe kể chuyện và phát triển vốn từ. Khuyến khích phụ huynh tham gia vào các hoạt động giáo dục. Để giúp phụ huynh hiểu rõ hơn về phương pháp giảng dạy tại lớp, tôi mời họ tham gia vào các hoạt động thực tế như: Dự giờ các tiết học văn học, thao giảng, hội thi giáo viên giỏi, để thấy rõ lợi ích của văn học đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Các buổi giao lưu đọc sách, nơi phụ huynh cùng con đọc truyện, kể chuyện, làm thơ, giúp trẻ rèn luyện khả năng giao tiếp và thể hiện cảm xúc. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình, phụ huynh đã chủ động hơn trong việc đồng hành cùng con trên hành trình phát triển ngôn ngữ. Trẻ không chỉ được rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ tại lớp mà còn được tạo điều kiện luyện tập tại nhà, từ đó giao tiếp mạch lạc hơn, mạnh dạn hơn và có vốn từ phong phú hơn.
- 16 3. Kết quả sau khi áp dụng biện pháp sáng kiến tại đơn vị Kết quả so sánh đối chứng: Đầu năm Cuối năm (tháng 3) Kết quả Đạt Chưa đạt Đạt Chưa đạt Nội dung Số Tỉ Số Tỉ lệ Số Tỉ Số Tỉ Số Tỉ lệ lượng lệ lượng lệ lượng đạt lượng lệ lượng % % % đạt tăng % tăng % 1. Trẻ hứng 34, 65,2 86, 13, thú nghe 8 15 20 3 12 52,1 8 9 1 cô kể chuyện 2. Trẻ có khả 30, năng 73, 26, 7 16 69,6 17 6 10 43,5 diễn đạt 4 9 1 rõ ràng, mạch lạc 3. Trẻ mạnh dạn, tự tin, chủ 39, 78, 21, động 9 14 60,9 18 5 9 39,2 1 3 7 trong giao tiếp với cô và bạn 4. Trẻ biết thể hiện ngôn 21, 73, 26, ngữ, 5 18 78,3 17 6 12 52,2 7 9 1 giọng điệu khi kể chuyện Qua khảo sát trong quá trình từ đầu năm học đến nay tôi đã áp dụng các biện pháp trên cho thấy sự cải thiện rõ rệt ở tất cả các tiêu chí: Số lượng trẻ đạt và tỉ lệ đạt đều tăng đáng kể từ đầu năm đến cuối năm. Mức độ thay đổi lớn nhất là tiêu chí "Trẻ hứng thú nghe cô kể chuyện" và "Trẻ biết thể hiện ngôn ngữ, giọng điệu khi kể chuyện," với tỉ lệ đạt tăng trên 50%. Mức độ thay đổi nhỏ hơn là "Trẻ mạnh dạn, tự tin, chủ động trong giao tiếp với cô và bạn," với tỉ lệ đạt tăng
- 17 39,2%. Như vậy, các tiêu chí này đều có sự tiến bộ rõ rệt trong năm học, cho thấy sự phát triển tích cực của trẻ trong các kỹ năng giao tiếp và kể chuyện. Đây là kết quả như tôi mong đợi ở đề tài này. 4. Hiệu quả của sáng kiến 4.1. Hiệu quả về khoa học Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động làm quen văn học thể loại truyện sẽ giúp trẻ có cơ hội hình thành và phát triển khả năng quan sát, phân tích, tính hiếu kỳ và lòng ham hiểu biết. Hơn nữa sẽ giúp trẻ yêu quý cuộc sống xung quanh, tiếp cận gần gũi với thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên và trân trọng những thành quả mà con và những người xung quanh tạo ra. Hiểu sâu hơn về kiến thức phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mầm non, nắm được yêu cầu cơ bản của ngôn ngữ đối với trẻ, Có các biện pháp và hình thức tổ chức phù hợp để đạt được yêu cầu cần đạt của cuối độ tuổi Thu hút, kích thích tính tích cực hoạt động của trẻ. Từ đó làm việc hay hoạt động học có khoa học ngay từ những năm tháng đầu đời của trẻ chính là cơ hội để trẻ học hỏi và tích kỹ kiến thức một cách tự nhiên và hiệu quả nhất. VD: giúp trẻ có tư duy logic (làm thế này thì mới ) được tiếp cận với kiến thức mới Giúp giáo viên bổ sung và nâng cao kiến thức chuyên môn cũng như hiệu quả giảng dạy 4.2. Hiệu quả về kinh tế Giảm thiểu việc mua và phụ thuộc vào nguồn tài liệu bài tập nhà trường cấp phát cho cả giáo viên và trẻ - giảm tiện cho nhà trường, do GV làm đồ dùng, đồ chơi từ phế liệu, do làm tốt công tác tuyên truyền cha mẹ học sinh ủng hộ nguyên vật liệu. Đề tài chỉ ra phương pháp xây dựng các bài tập nhiều cấp độ dựa trên nguồn tư liệu mở có sẵn trên mạng internet. Giảm thiểu thời gian GV nói nhiều trên lớp với trẻ. Bên cạnh đó, là những hiệu quả gián tiếp lâu dài về mặt kinh tế như nâng cao hiệu suất công việc của giáo viên, giúp học sinh có hứng thú hơn với môn học và nghiên cứu khoa học 4.3. Hiệu quả về xã hội Trực tiếp nâng cao chất lượng bồi dưỡng đội giáo viên. Giúp nâng cao trình độ giáo viên, tạo sự đoàn kết giúp đỡ nhau, mọi người thân thiện cùng nhau tiến bộ, tạo cơ hội cho trẻ được vui vẻ thoải mái trao đổi chia sẻ ý kiến của mình với mọi người . Phụ huynh đã phối hợp rất tích cực với tôi và phụ huynh nắm được các phương pháp dạy trẻ. Từ đó phụ huynh luôn kết hợp chặt chẽ với giáo viên để dạy trẻ. Qua đó việc dạy trẻ có hiệu quả và thống nhất hơn. 5. Tính khả thi (áp dụng vào thực tiễn công tác của đơn vị)
- 18 Khi áp dụng hiệu quả đề tài này giúp giáo viên chăm sóc giáo dục trẻ tốt hơn, đẩy mạnh phong trào đoàn kết, mang lại nhiều tích cực. Hiểu sâu hơn về kiến thức phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mầm non, nắm được yêu cầu cơ bản của ngôn ngữ đối với trẻ, Có các biện pháp và hình thức tổ chức phù hợp để đạt được yêu cầu cần đạt của cuối độ tuổi Thu hút, kích thích tính tích cực hoạt động của trẻ Vốn từ của trẻ tăng lên rõ rệt. Trẻ mạnh dạn tự tin nhiều hơn chủ động trong giao tiếp với cô, với bạn có thể tự nêu suy nghĩ, ý kiến của mình. Trẻ biết thể hiện ngữ điệu, giọng nói phù hợp với hoàn cảnh. 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiên Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 9/2024 - 3/2025 7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến Để thực hiện đề tài, tôi đã tham gia các buổi chuyên đề, bồi dưỡng do kinh phí của cấp trên tổ chức, đồng thời tự bồi dưỡng bằng các hình thức khác nhau. Khi thực hiện các giải pháp, làm đồ dùng đồ chơi dạy trẻ bằng các đồ dùng văn phòng phẩm do nhà trường cung cấp theo quy chế chi thường xuyên cho công tác chuyên môn, đồng thời tận dụng nguồn nguyên vật liệu sẵn có và sự ủng hộ của phụ huynh học sinh.
- 19 PHẦN 3: KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT Từ thực tế chăm sóc giảng dạy trẻ, tôi thấy các cháu hứng thú, tích cực tham gia vào giờ học trẻ tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Để các giờ học đạt kết quả trên giáo viên đã nỗ lực cố gắng rất nhiều, cô giáo phải suy nghĩ, sáng tạo làm một số đồ chơi phục vụ cho tiết học mất nhiều thời gian. Song đồ dùng đồ chơi do cô tự làm chỉ mang tính chất tạm thời rất dễ hỏng. Vậy việc chăm sóc - giảng dạy nói chung và môn học làm quen với tác phẩm văn học thể loại truyện kể nói riêng được nâng cao chất lượng đạt kết quả tốt, tạo được hứng thú say mê của trẻ đến với hoạt động học, không chỉ có sự cố gắng của giáo viên mà cần phải sự phối hợp, quan tâm hỗ trợ của các cấp, ban ngành, đoàn thể ... Vì vậy tôi mạnh dạn có một vài kiến nghị sau: 1. Đối với Phòng giáo dục Tổ chức các lớp tập huấn về chuyên đề LQVH cho GV các trường tham dự và học tập. 2. Đối với nhà trường Mở thêm các tiết chuyên đề, tiết mẫu để giáo viên trong nhà trường học tập, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ môn học. Tạo điều kiện cho chị em giáo viên đi dự giờ học tập các tiết chuyên đề do sở, phòng Giáo dục mở. Trên đây là nội dung đề tài sáng kiến “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen văn học thể loại truyện ở trường mầm non Châu Sơn”. Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, tôi hi vọng sẽ nhận được sự góp ý của các đồng chí lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp để bản thân tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN không sao chép nội dung của người khác. (ký tên, đóng dấu) Ngày 15 tháng 03 năm 2025 Người viết sáng kiến Tô Thị Thủy
- 20 Hình ảnh 1 Hình ảnh 2

