Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4- 5 tuổi trong trường Mầm Non - Chu Thị Hiền
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4- 5 tuổi trong trường Mầm Non - Chu Thị Hiền", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_giao_duc_ky_nang_song.pdf
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4- 5 tuổi trong trường Mầm Non - Chu Thị Hiền
- UBND HUYỆN BA VÌ TRƯỜNG MẦM NON CHÂU SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 4- 5 TUỔI TRONG TRƯỜNG MẦM NON Lĩnh vực : Giáo dục mẫu giáo Tên Tác giả : Chu Thị Hiền Đơn vị công tác: Trường MN Châu Sơn – Ba Vì Chức vụ: Giáo viên Năm 2025
- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------- ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến trường MN Châu Sơn Hội đồng sáng kiến huyện Ba Vì Ngày Trình độ Nơi Chức Họ và tên tháng năm chuyên Tên sáng kiến Công tác danh sinh môn Một số giải pháp giáo Trường Chu Thị Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 01/10/1984 MN Châu Đại học Hiền viên 4 - 5 tuổi trong trường Sơn mầm non - Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực giáo dục mẫu giáo - Tên sáng kiến đề nghị công nhận: “Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường mầm non” - Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử từ tháng 9/2024 tại lớp 4TB1 trường mầm non Châu Sơn - Mô tả bản chất của sáng kiến: Sáng kiến đưa ra một số giải pháp nhằm hình thành và rèn luyện các kỹ năng sống cho trẻ giúp trẻ tự tin, nhanh nhẹn, tự lập hứng thú tham gia các hoạt động, phụ huynh tin tưởng, yên tâm gửi con đến trường. Các giải pháp: 1. Tìm tòi, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực bản thân về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. 2. Tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày. 3. Tạo sự tự tin cho trẻ khi tham gia hoạt động. 4. Giáo dục kỹ năng sống thông qua việc sử dụng các tình huống cho trẻ giải quyết vấn đề. 5. Phối kết hợp với phụ huynh trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. - Những thông tin cần được bảo mật: Không - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: + Sự đồng tình của ban giám hiệu trong việc thực hiện các giải pháp. + Sự thống nhất giữa giáo viên trong cùng lớp.
- + Sự phối hợp của phụ huynh và học sinh để giáo viên thực hiện được các giải pháp đó. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử: Góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn của giáo viên và hiệu quả của việc giáo dục trẻ. + Trẻ được hình thành và rèn luyện, củng cố các kỹ năng xã hội giúp trẻ nhanh nhẹn, mạnh dạn, tự tin tham gia vào các hoạt động và lĩnh hội các kinh nghiệm để trẻ vận dụng trong cuộc sống sau này. + Mối quan hệ giữa giáo viên - phụ huynh - trẻ được xích lại gần nhau hơn - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: Có khả năng ứng dụng trong phạm vi các trường, cách làm phù hợp với thực tiễn của địa phương và có tính lan tỏa rộng rãi trong xã hội. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ba Vì, ngày 20 tháng 03 năm 2025 Người nộp đơn (Ký và ghi rõ họ tên) Chu Thị Hiền
- Mẫu 03 TRƯỜNG MN CHÂU SƠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HĐSK MN CHÂU SƠN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Châu Sơn, ngày 24 tháng 03 năm 2025 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ - Tên sáng kiến: “Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4- 5 tuổi trong trường mầm non” - Tác giả sáng kiến: Chu Thị Hiền - Họ tên người đánh giả: Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ - Cơ quan công tác: Trường mầm non Châu Sơn Nhận xét 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: (Nhận xét về tính mới và nêu rõ tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể, rõ ràng cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): 45 điểm. 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm Sáng kiến có tính mới, các giải pháp cải tiến so với phương pháp cũ, có tính ứng dụng cao và phù hợp với điều kiện hiện tại. Cách thức thực hiện được trình bày chi tiết, dễ hiểu và có thể áp dụng trong thực tế. Điểm đánh giá: 18 điểm 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ (như có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp ): 5 điểm Phân tích rõ ràng những điểm khác biệt so với giải pháp cũ và giải pháp mới, có những số liệu khảo sát cụ thể trước và sau khi áp dụng, có so sánh đối chứng kết quả đầy đủ chi tiết, rõ ràng. Điểm đánh giá: 4 điểm 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo, hiệu quả (nêu rõ kết quả, hiệu quả khi áp dụng cách làm, giải pháp mới ): 20 điểm Giải pháp mới được trình bày chi tiết, có tính logic và dễ dàng triển khai. Sáng kiến có sự phân tích kỹ lưỡng về tính sáng tạo, thể hiện sự cải tiến. Điểm đánh giá: 16 điểm 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng (Nhận xét mức độ thực hiện và khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng ngành, lĩnh vực hoặc rộng rãi cho nhiều ngành, địa phương trong thực tế đạt hiệu quả): 30 điểm. 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước (khi chưa áp dụng nội dung sáng kiến) và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp mới: 10 điểm. Sáng kiến đã đưa ra các số liệu cụ thể để chứng minh tính hiệu quả, bao gồm các chỉ số trước và sau khi thực hiện. Những số liệu này góp phần khẳng định tính thực tiễn của giải pháp.
- Điểm đánh giá: 9 điểm. 2.2. Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. Sáng kiến có khả năng nhân rộng ra các đơn vị khác trong cùng lĩnh vực. Phương pháp triển khai đơn giản giúp tăng tính ứng dụng và phổ biến của sáng kiến trong thực tế. Điểm đánh giá: 16 điểm 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến (Nhận xét sáng kiến đó đã được số đông thừa nhận và đã mang lại hiệu quả cụ thể cho cơ quan, tổ chức như: Nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính - sự nghiệp, hiệu quả kinh tế hoặc lợi ích xã hội, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả công tác): 20 điểm Các giải pháp có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có thể ứng dụng rộng rãi đối với giáo viên công tác tại các trường mầm non, góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục trẻ. Điểm đánh giá: 15.5 điểm 4. Nội dung 4. Về hình thức (Nhận xét cách trình bày khoa học, đầy đủ, bố cục logic): 5 điểm. Sáng kiến được trình bày khoa học, bố cục rõ ràng và hợp lý. Nội dung mạch lạc, dễ hiểu, đảm bảo tính logic trong từng phần, đúng thể thức văn bản, văn phong phù hợp. Điểm đánh giá: 4.5 điểm Tổng số điểm sáng kiến: 83 điểm Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt phải đạt 70 điểm trở lên) - Đạt - Không đạt □ Người đánh giá (Họ, tên và chữ ký) Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ
- MỤC LỤC STT NỘI DUNG TRANG PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến 2 Mục tiêu của đề tài 3 Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1 Hiện trạng vấn đề 2 Những giải pháp chính để giải quyết vấn đề Giải pháp 1: Tìm tòi, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực 3 bản thân về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Giải pháp 2: Tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho 4 trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày. 5 Giải pháp 3: Tạo sự tự tin cho trẻ khi tham gia hoạt động Giải pháp 4: Giáo dục kỹ năng sống thông qua việc sử dụng 6 các tình huống cho trẻ giải quyết vấn đề Giải pháp 5: Phối kết hợp với phụ huynh trong việc giáo dục 7 kỹ năng sống cho trẻ. 8 Kết quả đạt được 9 Hiệu quả của sáng kiến 10 Tính khả thi 11 Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến 12 Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến PHẦN III: KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 1 Đối với Phòng giáo dục: 2 Đối với nhà trường
- PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. 1.1. Cơ sở lí luận: Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước. Giúp cho trẻ sớm hình thành những biểu tượng của nhân cách trong cuộc sống là kết quả của sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường. Trong đó có sự đóng góp của các cô giáo mầm non, những người mẹ thứ hai của trẻ. Ngoài việc cung cấp những kiến thức để giúp trẻ phát triển về mặt nhận thức, trí tuệ thì các cô còn giúp trẻ hình thành nên vốn kỹ năng cần thiết cho trẻ trong cuộc sống. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Kỹ năng sống là những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong các tình huống hàng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”. Việc rèn luyện kỹ năng sống giúp con người biến kiến thức thành thái độ, giá trị, hành vi và thói quen lành mạnh. Vì vậy, cần dạy kỹ năng sống cho trẻ ngay từ khi còn thơ bé nhằm giúp trẻ tự biết chăm sóc và bảo vệ bản thân tránh khỏi những nguy hiểm có thể xảy ra. Trẻ có thể hoà nhập nhanh với cuộc sống xung quanh, biết cách phát triển các mối quan hệ với mọi người, với thiên nhiên từ đó học hỏi và làm giàu có thêm vốn kiến thức, kinh nghiệm cũng như các kỹ năng của bản thân. Kỹ năng sống chính là phương tiện không thể thiếu để giúp trẻ tăng năng lực hội nhập, tích cực, chủ động, sáng tạo, mạnh dạn, tự tin vững vàng trước mọi khó khăn thử thách, là chìa khóa cho sự sống còn, sự phát triển và sự thành công của mỗi con người sau này. Ở lứa tuổi mẫu giáo, kỹ năng sống chiếm một vị trí hết sức quan trọng nó góp phần giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách con người, giúp trẻ học tập, lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội để trẻ vận dụng trong cuộc sống sau này. 1.2. Cơ sở thực tiễn: Hiện nay, sự phát triển của kinh tế - xã hội đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với hệ thống giáo dục, đòi hỏi nền giáo dục phải đào tạo ra những con người “phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể lực, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”. Trong khi đó thì nhiều phụ huynh có rất ít thời gian để quan tâm đến con cái, chính vì vậy trẻ ít khi được giao tiếp với thế giới bên ngoài. Và cũng có những phụ huynh nuông chiều con thái quá, làm hộ con mọi việc vì cho con làm thì sợ con bẩn, sợ con không làm được, con muốn gì được nấy...Điều này làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển nhận thức, tình cảm và sự phát triển toàn diện của trẻ, đặc biệt là hầu hết trẻ không có vốn kỹ năng sống. Vì vậy,
- việc hình thành kỹ năng sống cho mọi người nói chung và trẻ em nói riêng đang trở thành nhiệm vụ quan trọng. Song trên thực tế việc dạy kỹ năng sống cho trẻ trong các trường mầm non còn mới mẻ và rất nhiều giáo viên còn chưa hiểu rõ được tầm quan trọng của vấn đề hoặc thiếu kỹ năng giảng dạy để có thể truyền đạt cho trẻ hiểu và hình thành cho trẻ những kỹ năng sống cần thiết cho trẻ. Là giáo viên mầm non đã có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề, tôi nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống đối với sự phát triển của trẻ, và luôn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4 - 5 tuổi. Giáo dục kỹ năng sống không phải là nói cho trẻ biết thế nào là đúng, thế nào là sai như ta thường làm. Giáo dục kỹ năng sống là giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn những giải pháp khác nhau. Giải quyết phải xuất phát từ trẻ. Vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4- 5 tuổi trong trường mầm non” 2. Mục tiêu của đề tài sáng kiến Với bản thân: Xây dựng được một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua các hoạt động. Từ đó đề xuất một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường mầm non nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trường mầm non trong hiện tại và những năm tiếp theo. Với trẻ: nhằm rèn luyện và nâng cao vốn kỹ năng sống cho trẻ phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo, mạnh dạn, tự tin của trẻ trong mọi hoạt động Đối với phụ huynh: Giúp phụ huynh nắm được tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng sống cho trẻ, từ đó phụ huynh sẵn sàng phối hợp cùng giáo viên trong các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu Thời gian nghiên cứu: từ 9/2024 đến hết tháng 2/2025 Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4- 5 tuổi trong trường mầm non Đối tượng khảo sát, thực nghiệm: 23 trẻ lớp 4TB1 trường mầm non Châu Sơn - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được áp dụng tại lớp 4TB1 - Trường mầm non Châu Sơn. Với tổng số: 23 trẻ (trong đó: 12 trẻ nữ và 11 trẻ nam). Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu lí luận, thực nghiệm sư phạm, kiểm tra đánh giá. PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng của vấn đề. 1.1. Đặc điểm tình hình
- Năm học 2024 - 2025 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 4TB1 với tổng số học sinh là 23 cháu, trong đó: 12 trẻ nữ và 11 trẻ nam. Với mục tiêu thực hiện chủ đề “Xây dựng trường, lớp học hạnh phúc”, “xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” và thực hiện sự phân công của nhà trường về lớp điểm xây dựng phát triển chương trình giáo dục nhà trường về giáo dục lễ giáo, kỹ năng sống. Vì vậy, tôi đã trăn trở suy nghĩ và mạnh dạn xây dựng, áp dụng biện pháp nhằm nâng cao tính chủ động, tích cực, tự tin, sáng tạo cho trẻ với đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường mầm non” Để thực hiện mục tiêu của sáng kiến, đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng của lớp mình. Tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau: 1.1.1. Thuận lợi Được sự quan tâm, giúp đỡ của cấp trên trường mầm non chúng tôi đã xây dựng thêm khu trường mới, cơ sở vật chất khá đầy đủ hiện đại, có phòng chức năng cho trẻ hoạt động, phòng học sáng, thoáng mát rất tốt cho việc dạy và học trong trường. Ban giám hiệu trẻ, năng động, sáng tạo, có trách nhiệm. Bản thân là một giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm trong nghề, yêu nghề, mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm, được phụ huynh tin tưởng, có tinh thần học hỏi nâng cao trình độ. Lớp học luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các bậc phụ huynh trong việc phối kết hợp với nhà trường để giáo dục trẻ đạt hiệu quả cao hơn. Nhiều phụ huynh đã ủng hộ nhiệt tình các nguyên vật liệu cho các hoạt động của các con. Trẻ đồng đều về độ tuổi, ăn bán trú 100%, đi học đều đặn, học sinh đến lớp được tham gia đầy đủ các hoạt động. 1.1.2. Khó khăn: Một số trẻ còn thiếu tự tin, ít nói, chưa mạnh dạn tham gia các hoạt động. Một số trẻ được sống trong môi trường quá bao bọc khiến trẻ quen dựa dẫm, trẻ ích kỷ, không có tính tự lập . Một số trẻ ở nhà với ông bà, bố mẹ đi vắng nên việc cập nhật các hoạt động trên lớp của các con cũng như các tin tức, hoạt động của nhà trường chưa thường xuyên. Đa số phụ huynh chỉ quan tâm đến vấn đề học chữ, học toán của con nên chưa nhận thức đúng đắn vai trò của việc giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ. 1.2. Cách làm cũ trước khi thực hiện đề tài Trong những năm học trước để hình thành các kỹ năng sống cho trẻ tôi đã thực hiện như sau: Hình thành kĩ năng sống cho trẻ thông qua việc lồng ghép trong các hoạt
- động. Tuy nhiên nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ chưa phong phú, đa dạng do việc lồng ghép phải phù hợp với chủ đề, nội dung bài học. Bản thân có tham gia bồi dưỡng thường xuyên tuy nhiên việc bồi dưỡng còn mang tính hình thức nên việc tiếp thu kiến thức còn chưa sâu, hình thức tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ còn đơn điệu đạt hiệu quả thấp. Sử dụng những lời động viên khích lệ trẻ trong việc khuyến khích trẻ tham gia hoạt động. Tuy nhiên tôi chưa có tình bền bỉ, kiên nhẫn làm cho trẻ chưa phát huy hết khả năng của mình. Tuyên truyền, trao đổi với phụ huynh về việc rèn kĩ năng sống cho trẻ tại nhà còn mang tính hình thức, chưa mạnh dạn, sát sao, đôn đốc. 1.3. Nhược điểm của cách làm cũ: Tôi đã nhìn lại các cách làm cũ mình đã thực hiện trong hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thời gian trước đó và nhận thấy còn nhiều hạn chế như kiến thức về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ của bản thân tôi còn hạn chế, bản thân có bồi dưỡng, có tập huấn nhưng chưa đi sâu đi sát, chưa chịu khó tìm tòi. Các hoạt động dạy kỹ năng sống cho trẻ chưa được chú ý đến và chưa được tổ chức trên một hoạt động học độc lập nên chưa hấp dẫn về nội dung, phong phú về hình thức, dạy trên lý thuyết chưa cho trẻ thực hành trải nghiệm. Khi tổ chức còn đơn điệu chưa phát huy được tính chủ động tích cực của trẻ dẫn tới trẻ chưa áp dụng được các bài học vào thực tiễn cuộc sống. Việc phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ còn hời hợt, giáo viên chưa thực sự chú ý đến, phụ huynh thì chưa coi trọng việc giáo dục kỹ năng cho trẻ. 1.4. Khảo sát thực tế. Qua điều tra thực tế về vốn kỹ năng sống của trẻ trong lớp, tôi nhận thấy kết quả khảo sát trước khi thực hiện đề tài với số lượng 23 trẻ như sau: Bảng khảo sát trẻ đầu năm Đạt Chưa đạt Nội dung khảo sát Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Lượng % Lượng % Trẻ có kỹ năng tự chăm sóc và bảo vệ 13/23 56,5 10/23 43,5 Trẻ có kỹ năng tự tin 12/23 52,1 11/23 47,9 Trẻ có kỹ năng giao tiếp 11/23 47,8 12/23 52,2 Trẻ có kỹ năng hợp tác làm việc nhóm 11/23 47,8 12/23 52,2 Trẻ có kỹ năng giải quyết vấn đề 12/23 52,2 11/23 47,8 Qua bảng khảo sát cho thấy trẻ còn nhiều hạn chế trong các kỹ năng xã hội, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp, hợp tác nhóm và sự tự tin. Đây là những yếu tố quan
- trọng quyết định sự phát triển toàn diện của trẻ. Nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời, trẻ có thể gặp khó khăn trong quá trình học tập và hòa nhập xã hội. Vì vậy, cả giáo viên và phụ huynh cần phối hợp để giúp trẻ cải thiện những điểm yếu này thông qua các hoạt động giáo dục phù hợp. 2. Những giải pháp chính để giải quyết vấn đề Để nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: 1. Tìm tòi, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực bản thân về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. 2. Tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày. 3. Tạo sự tự tin cho trẻ khi tham gia hoạt động. 4. Giáo dục kỹ năng sống thông qua việc sử dụng các tình huống cho trẻ giải quyết vấn đề. 5. Phối kết hợp với phụ huynh trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Dưới đây là nội dung chi tiết từng giải pháp: Giải pháp 1: Tìm tòi, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực bản thân về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Trường mầm non là ngôi nhà thứ hai và giáo viên mầm non là người mẹ thứ hai của trẻ. Trẻ ở trường với cô từ sáng đến tận tối, mọi cử chỉ, lời nói, hành động của cô sẽ ảnh hưởng đến trẻ rất nhiều. Vì vậy bản thân người giáo viên phải là một tấm gương sáng để trẻ soi vào. Đồng thời, để đáp ứng được yêu cầu của nền giáo dục ngày càng hiện đại hóa thì việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ là một việc làm vô cùng cần thiết đối với giáo viên. Đây là một trong những hình thức góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng chuyên môn rõ rệt. Ngay từ khi bắt đầu kì nghỉ hè, tôi và các đồng nghiệp đã xây dựng kế hoạch tự bồi dưỡng trong hè và trong năm học mới với những modul mà mình thấy yếu và modul về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Vào đầu năm học mới, tôi nghiên cứu kỹ các nội dung chương trình, sách hướng dẫn thực hiện chương trình, các tài liệu có liên quan đến giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Sau đó, tự rút ra những ưu điểm, hạn chế của các phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong năm học vừa qua. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi cùng đồng nghiệp cũng thường hay trao đổi về việc làm thế nào để việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tốt hơn. Chúng tôi cùng nhau thảo luận về những điều đã đạt được và những vướng mắc cần giải quyết từ việc nghiên cứu tài liệu đến việc thực tế dạy trẻ gặp khó khăn ra sao. Tôi cũng đã mạnh dạn đề xuất dạy hoạt động minh họa để cả tổ cùng dự và
- rút kinh nghiệm về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ với đề tài “Dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân”. Sau tiết dạy, tôi cùng đồng nghiệp đã dự giờ trao đổi, góp ý cụ thể, phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm cho từng hoạt động. Từ đó, tôi và đồng nghiệp nắm vững hơn về nội dung, hình thức, phương pháp và cách thức tổ chức các hoạt động theo hướng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm chú trọng dạy trẻ kỹ năng sống. Bên cạnh đó, tôi tham gia đầy đủ những buổi học tập chuyên đề, tập huấn của Phòng Giáo dục, tiểu khu hay của nhà trường tổ chức. Qua những buổi thăm quan, dự giờ học hỏi từ các trường bạn, dự giờ tiết dạy của đồng nghiệp trong trường tôi áp dụng vào thực tế hoạt động của lớp mình. Ngoài việc học tập từ ban giám hiệu, từ bạn bè, đồng nghiệp thì tôi học tập qua kênh thông tin đại chúng như: xem những chương trình giáo dục kỹ năng sống phát trên các kênh truyền hình hay qua mạng internet, tham gia các nhóm facebook giáo viên mầm non để trao đổi kiến thức, học hỏi, theo dõi các kênh dạy kỹ năng sống dành cho trẻ em như kênh youtube Super JoJo, youtube Voi TV, youtube giáo dục trẻ em ECE, VTV7, kênh youtubeVina Cartoon, facebook Thầy Tùng kỹ năng, Tôi cũng tham gia buổi tập huấn trực tiếp hay qua zoom để nâng cao trình độ chuyên môn của mình như học phương pháp giáo dục tiên tiến Steam của cô Lê Bích Hồng, học kỹ năng công nghệ thông tin của thầy Bùi Duy Phương. Có thể nói qua một thời gian tự nghiên cứu, tự học hỏi, tự bồi dưỡng tôi cảm thấy mình đã trang bị được những kiến thức cơ bản về rèn kỹ năng sống cho trẻ. Tôi đã thực sự hiểu trẻ hơn, có thể đưa ra những biện pháp phù hợp nhất để giúp trẻ có những kỹ năng cần thiết. Bản thân tôi cảm thấy tự tin hơn khi đứng lớp giảng dạy, tôi cũng đã truyền được nhiều cảm hứng đến chị em đồng nghiệp về phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Giải pháp 2: Tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày. Phần lớn thời gian là trẻ ở trường, một ngày ở trường trẻ được tham gia rất nhiều các hoạt động. Việc lồng ghép, giáo dục các kỹ năng sống cho trẻ qua các hoạt động này được lặp lại hàng ngày chắc chắn sẽ hình thành nên những thói quen cho trẻ. * Giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt động học. Lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống vào trong các hoạt động học nhằm hình thành cho trẻ các thói quen, các hành vi quy tắc ứng xữ xã hội. Trên các hoạt động học để trẻ vừa được cung cấp kiến thức, vừa được giáo dục kỹ năng
- cần thiết. Thông qua các hoạt động học, trẻ sẽ được trải nghiệm, khám phá và sẽ được tương tác với cô, với bạn bè từ đó giúp cho trẻ mạnh dạn hơn, tự tin hơn. Ngay từ đầu năm học, khi xây dựng kế hoạch giáo dục lớp tôi và các đồng nghiệp đã đưa ra các nội dung dạy kỹ năng sống cho trẻ trong từng tháng, mỗi tháng 3 - 5 kỹ năng để khi thực hiện giáo viên có thể lựa chọn sao cho phù hợp với trẻ, với thực tế của lớp khi giảng dạy. Sau đó, khi xây dựng kế hoạch tháng mỗi tháng tôi dành một hoạt động học để dạy trẻ kỹ năng sống. Tháng Nôi dung giáo dục kĩ năng sống Tháng 9 Dạy trẻ tự lấy, cất đồ dùng đồ chơi Dạy trẻ chơi an toàn với đồ chơi ngoài trời. Tự tin khi đến lớp Phối hợp, đoàn kết với bạn trong khi chơi . Dạy trẻ đánh răng đúng cách Tháng 10 Không nhận quà và đi theo người lạ Cách xử lí khi bị bắt cóc Phòng tránh xâm hại Dạy trẻ nói lời cảm ơn- xin lỗi Dạy trẻ kỹ năng lửa và cách thoát hiểm. Tháng 11 Phòng tránh một số vật dụng nguy hiểm: bàn là, phích nước,... Nhận biết và thể hiện cảm xúc Dạy trẻ kĩ năng chia sẻ, giúp đỡ người khác những công việc vừa sức. Giúp bố mẹ làm việc nhà Xếp hàng chờ đến lượt Kĩ năng lắng nghe Tháng 12 Tự bảo vệ bản thân: không chơi ở gần những nơi nguy hiểm như ao, hồ, sông... Tự mặc quần áo phù hợp thời tiết Dạy trẻ trả lời, giao tiếp bằng những câu hoàn chỉnh Dạy trẻ chăm sóc cây Tháng 1 Dạy trẻ cách ăn hoa quả an toàn Kĩ năng giao tiếp với người lạ Dạy trẻ nói năng lễ phép với người lớn và cách chúc tết khi đi chơi tết Dạy trẻ bảo vệ sức khỏe ngày tết Tháng 2 Kĩ năng chăm sóc các con vật Kĩ năng tự đóng, mở khóa áo, gấp quần áo Kĩ năng tự bảo vệ bản thân trước những con vật nguy hiểm. Không mở cửa cho người lạ vào nhà
- Cách tham gia giao thông an toàn.. Tháng 3 Kĩ năng làm việc nhóm Kĩ năng phân nhóm các PTGT Kỹ năng tự mua đồ ở siêu thị, cửa hàng Nhận diện các tình huống nguy hiểm Lựa chọn trang phục phù hợp theo thời tiết. Tháng 4 Cách sử dụng điện an toàn Khi thấy trời mưa to, sấm chớp bé phải làm gì? Sử dụng nước tiết kiệm Cách xử lí các tình huống đơn giản Tháng 5 An toàn khi đi du lịch. Kỹ năng tự lập Với các hoạt động học thì tùy vào từng hoạt động để lồng ghép dạy kỹ năng cho trẻ phù hợp với nội dung bài học. Qua hoạt động khám phá khoa học trẻ được lĩnh hội những kiến thức về thế giới xung quanh, từ đó hình thành cho trẻ những kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng bảo vệ an toàn cho bản thân Ví dụ: Với hoat động khám phá về bản thân tôi dạy trẻ kỹ năng giao tiếp (biết chia sẻ về bản thân mình với các bạn như giới tính, sở thích...); kỹ năng lắng nghe bạn nói; kỹ năng tự chăm sóc bản thân (dạy trẻ các bộ phận cơ thể, từ đó giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, rửa mặt, rửa tay, đeo khẩu trang, ăn uống đủ chất và lành mạnh); kỹ năng tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ bị xâm hại (nhận diện những mối nguy hiểm, không cho người khác đụng chạm vào vùng riêng tư khi không có bố mẹ ở bên cạnh). Để giúp trẻ có kỹ năng tự bảo vệ bản thân tôi dạy trẻ quy tắc 5 ngón tay: Ngón cái - Ôm hôn, Ngón trỏ - nắm tay, Ngón giữa - bắt tay, Ngón áp út - Vẫy tay, Ngón út - xua tay; mỗi một ngón tay tương ứng với một hành động và giới hạn những người có thể thực hiện hành động đó và những việc trẻ nên làm. Hay khi tìm hiểu về “giao thông” tôi dạy trẻ tìm hiểu về các phương tiện giao thông, một số quy định khi tham gia giao thông rồi dạy trẻ các kỹ năng an toàn khi tham gia giao thông như đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, ngồi ngay ngắn không đùa nghịch và ôm chặt vào bố mẹ, cho trẻ thực hành kỹ năng đội mũ bảo hiểm; khi ngồi trên ô tô không được thò đầu, thò tay ra ngoài cửa số, phải đợi xe dừng hẳn mới được xuống xe; không đùa nghịch ngoài đường, không đi ra đường một mình, giúp trẻ phân biệt đâu là lề đường, vỉa hè, đâu là lòng đường không được đùa nghịch. (Trẻ tập đội mũ bảo hiểm - Hình ảnh 1- Phần minh chứng) Các tác phẩm văn học không chỉ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mà còn góp phần giáo dục tình cảm đạo đức, cảm xúc thẩm mỹ. Khi cô kể chuyện cho trẻ nghe
- và đặt câu hỏi đàm thoại để trẻ trả lời là lúc cô cho trẻ nhập vào vai các nhân vật trong câu truyện giúp khơi gợi các cảm xúc của trẻ. Qua các câu chuyện cô giáo dục trẻ làm việc theo nhóm, không tham lam ích kỷ, biết lắng nghe ý kiến của người khác, biết yêu thương, chia sẻ, giúp đỡ mọi người, yêu cái đẹp, ghét cái xấu, giúp trẻ hướng thiện.... Đồng thời khi cô cho trẻ tập đóng vai, cho trẻ thể hiện các bài thơ thì kỹ năng tự tin của trẻ được rèn luyện thêm. Ví dụ: qua hoạt động làm quen với văn học kể chuyện cho trẻ nghe câu chuyện “Gấu con bị đau răng” tôi dạy trẻ kỹ năng đánh răng để giữ gìn vệ sinh răng miệng. Hay qua câu chuyện Qua đường tôi cho trẻ tập đóng vai các nhân vật: trẻ đóng thỏ mẹ, trẻ đóng thỏ chị, trẻ đóng thỏ em, trẻ đóng chú cảnh sát giao thông thỏ xám. Trẻ được đóng vai và trẻ được xem đều rất thích thú và ghi nhớ rằng khi sang đường phải có người lớn đi cùng; khi sang đường phải tuân theo đèn tìn hiệu giao thông. Trẻ em lứa tuổi mẫu giáo rất nhạy cảm với âm nhạc. Trẻ rất thích nghe nhạc và hứng thú tham gia vào các hoạt động có âm nhạc. Quá trình trẻ tiếp xúc và hoạt động âm nhạc như nghe cô hát, trẻ nhảy múa theo nhạc, chơi các trò chơi âm nhạc sẽ hình thành ở trẻ những yếu tố của một nhân cách phát triển toàn diện, hài hòa, đó là sự phát triển về thẩm mỹ, đạo đức, trí tuệ và thể lực trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Qua hoạt động âm nhạc giúp thể bộc lộ những cảm xúc âm nhạc và giúp trẻ hình thành rất nhiều các kỹ năng sống tốt đẹp như kỹ năng tự tin biểu diễn, kỹ năng lắng nghe và sử dụng các nhạc cụ, lòng yêu quê hương, yêu đất nước,... Ví dụ qua trò chơi âm nhạc Đoán tên bạn hát, trẻ sẽ phát triển kỹ năng lắng nghe để đoán được tên bạn hát, khi chơi cô chia nhóm trẻ sẽ được rèn luyện kỹ năng hoạt động nhóm, sau khi đoán cho trẻ lên biểu diễn bài hát cùng bạn là giúp trẻ thêm tự tin. Qua hoạt động thể chất rèn luyện cho trẻ các kỹ năng nhanh nhẹn, mạnh dạn, tự tin, khéo léo khi tham gia vận động, biết bảo vệ sức khỏe, trẻ có những kỹ năng vận động từ dễ đến khó và đều đạt được kết quả mong đợi ở cuối độ tuổi. Qua hoạt động làm quen với toán hình thành và phát triến cho trẻ các kỹ năng: so sánh, đo, đong, ghép đôi, phân nhóm, tách gộp, thêm bớt, Qua hoạt động tạo hình, trẻ phát triển kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng sử dụng kéo, phết hồ dán, bóc băng dính, kỹ năng tự lấy cất đồ dùng đúng nơi quy định, chia sẻ về sản phẩm của mình và nhóm mình làm ra. Qua đó giúp trẻ mạnh dạn tự tin thể hiện bản thân khi tham gia hoạt động, phát huy óc sáng tạo, sự khéo léo của đôi tay.
- (Trẻ chia sẻ về sản phẩm tạo hình của mình - Hình ảnh 2- Phần minh chứng) * Giáo dục kỹ năng sống qua hoạt động vui chơi: Trẻ mầm non học mà chơi, chơi mà học. Vì vậy hoạt động vui chơi là không thể thiếu với trẻ và người giáo viên thông qua các góc chơi để hình thành và rèn luyên các kỹ năng cho trẻ Ở góc chơi xây dựng, hình thành cho trẻ kỹ năng làm việc nhóm, trẻ biết phối hợp phân công công việc để cùng nhau hoàn thành công trình của nhóm mình; rèn luyện kỹ năng tự tin và kỹ năng giao tiếp cho trẻ khi trẻ giới thiệu về công trình của nhóm mình cho cô giáo và các bạn cùng nghe. Ở góc chơi phân vai dạy trẻ biết chơi đoàn kết, phân công công việc, học hỏi kỹ năng mua hàng, bán hàng, kỹ năng xúc và bón cơm cho em, học nấu những món ăn, tập làm bác sỹ khám bệnh cho em bé, ...Thông qua góc chơi này trẻ được trải nghiệm làm điều mình thích và bước đầu hình thành nên những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống sau này. (Trẻ chơi góc nấu ăn - Hình ảnh 3- Phần minh chứng) Ở góc tạo hình để hình thành và rèn kuyện kỹ năng cầm bút, tô, vẽ, nặn, cầm và cắt kéo, xé và dán, ... Đặc biệt qua góc thực hành kỹ năng sống, trẻ được thực hành nhiều kỹ năng trong cuộc sống như cách lấy và uống nước, cách gắp bằng các loại kẹp, quét rác trên sàn, cách đan nong mốt, cách chải và tết tóc cho mình, cho bạn, cái khuy, kéo khoá (Trẻ chơi góc kỹ năng sống - Hình ảnh 4- Phần minh chứng) Ngoài ra, tôi tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi dân gian như rồng rắn lên mây, kéo co, cắp cua bỏ giỏ, cướp cờ, ....Thông qua các trò chơi này trẻ không chỉ được vận động, trải nghiệm học tập mà còn được rèn luyện tư duy, khả năng sáng tạo, qua đó có thể giáo dục trẻ về sức mạnh của sự đoàn kết, sự khéo léo của đôi bàn tay, phản xạ theo hiệu lệnh và rèn luyện sự nhanh nhẹn của cơ thể. * Giáo dục kỹ năng sống qua các hoạt động khác: Trong giờ đón trả trẻ: Tôi giáo dục trẻ một số kỹ năng giao tiếp, một số kỹ năng tự phục vụ như cất giày dép, cất balo đúng nơi quy định, biết nói lời xin lỗi, biết nói cảm ơn, không nói leo hay lấy đồ của người khác. Trong giờ thể dục sáng: Trẻ biết lấy, cất vòng thể dục, biết tự đi giày dép, đi theo hàng, không chen lấn xô đẩy, xếp hàng, cắt hàng theo tổ Trẻ được tập các bài tập ngoài sân trường cùng với các lớp bạn giúp cho trẻ phát triển các kỹ năng vận động; trẻ mạnh dạn, tự tin hơn khi tham gia hoạt động tập thể. Trong giờ hoạt động ngoài trời: khi ra sân chơi trẻ phải đi theo hàng, không chen lấn xô đẩy, chơi đoàn kết với bạn.... Ngoài sân là khoảng không gian rất
- rộng vì vậy trẻ phải tập trung hoạt động theo phạm vi của lớp mình. Hàng tuần tôi và đồng nghiệp đều tổ chức giao lưu trong khối, giáo lưu với lớp trên, có thể là giao lưu thể chất hoặc giao lưu âm nhạc. Qua mỗi buổi giao lưu trẻ đều rất vui vẻ, đây là cơ hội để trẻ có thêm những người bạn mới, thể hiện được khả năng của mình. Các kỹ năng như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự tin nơi đông người, kỹ năng hợp tác và các kỹ năng vận động của trẻ được rèn luyện. (Trẻ kéo co cùng lớp bạn - Hình ảnh 5- Phần minh chứng ) Giáo dục kỹ năng sống qua hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh: trẻ sẽ được hình thành và rèn luyện các kỹ năng tự phục vụ như: cầm thìa bằng tay phải, tay trái giữ bát, tự xúc cơm ăn gọn gàng, khi ăn xúc từng thìa nhỏ, nhai nhỏ nhẹ không nhai nhồm nhoàm, biết mời cô, mời bạn trước khi ăn, biết tự cất bát, ghế sau khi ăn xong, tự vệ sinh sạch sẽ, ngồi ngay ngắn khi ăn, xếp hàng chờ đến lượt .... Qua hoạt động chiều tôi dạy trẻ kỹ năng mới và rèn luyện, củng cố cho trẻ một số kỹ năng đã được học. Đồng thời dạy trẻ một số bài thơ về kỹ năng sống. Ví dụ: Bài thơ: Chào hỏi, cảm ơn Bài thơ: Tự tin Khi bé gặp người lớn Khi đến chỗ đông người Hãy lễ phép khoanh tay Nên tự tin mạnh dạn Tập chào hỏi trước ngay Chớ rụt rè nhút nhát Vậy là ngoan lắm đấy Hãy thể hiện mình nào Khi ai cho quà bánh Nói năng với mời chào Bé đón nhận hai tay Thật to và dõng dạc Ai giúp bé điều hay Để ông bà cô bác Câu cảm ơn luôn nhớ! Mọi người đều khen con! * Giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động giao lưu; trải nghiệm: Thông qua hoạt động trải nghiệm, hình thành những năng lực, kĩ năng sống, phẩm chất tốt đẹp cho trẻ, giúp trẻ độc lập, chủ động hơn trong các hoạt động hằng ngày, tự tin trong các mối quan hệ và tích cực tham gia các hoạt động Nắm bắt được điều này, khi có kế hoạch tổ chức các chương trình như khai giảng; trung thu cho bé, .. hay các hoạt động trải nghiệm Bé với trò chơi dân gian; Trải nghiệm bé tập làm bánh trưng,...tôi dành thời gian trò chuyện với trẻ về chương trình đó, để trẻ tiếp nhận và nắm bắt được các hoạt động trong chương trình để khi tham gia trẻ sẽ lĩnh hội được tốt nhất các kỹ năng sống; hay thảo luận phân công nhiệm vụ với giáo viên cùng lớp; mời phụ huynh cùng đến tham gia cùng các con. (Trẻ tập gói bánh chưng - Hình ảnh 6- Phần minh chứng )
- Mỗi một hoạt động một cách lồng ghép khác nhau, sao cho phù hợp với nội dung của hoạt động đó sẽ có những tác động nhất định đến trẻ. Những công việc trẻ thực hiện hàng ngày được lặp đi lặp lại sẽ tạo nên những thói quen, từ đó dần hình thành nên những kỹ năng cho trẻ. Qua các hoạt động này không chỉ giúp hình thành kiến thức mới mà quan trọng hơn là tạo cho trẻ có niềm say mê tìm hiểu, thích khám phá và biết cách lĩnh hội những kiến thức mới, cách hình thành kỹ năng mới. Giải pháp 3: Tạo sự tự tin cho trẻ khi tham gia hoạt động Tự tin là hoàn toàn tin tưởng vào bản thân mình. Có tự tin, trẻ mới làm tốt tất cả mọi việc và tự tin còn giúp trẻ dám nỗ lực, không ngại thử thách; trẻ tự tin sẽ có khả năng sống độc lập, hòa nhập xã hội tốt và dễ thành công hơn trong cuộc sống sau này. Để giúp trẻ phát triển sự tự tin, tôi thường xuyên khích lệ, khen ngợi, cổ vũ và động viên trẻ. Bằng cách này, trẻ sẽ cảm thấy được ủng hộ và yêu thương, từ đó xây dựng sự tự tin cho bản thân. Vốn trẻ mầm non rất muốn được cô và các bạn khen ngợi và cũng rất muốn được thể hiện mình. Vậy thì tôi thường xuyên tạo cho trẻ nhiều cơ hội để trẻ tự khẳng định mình, thể hiện những suy nghĩ, ý tưởng và sáng tạo một cách tự do, từ đó trẻ cảm thấy được tôn trọng và tin tưởng vào khả năng của mình. Bên cạnh đó, khi trẻ thành công với một nhiệm vụ dù lớn hay nhỏ, những lời khen chân thành từ cô sẽ là cách ghi nhận nỗ lực của trẻ, giúp con cảm thấy có động lực, tự tin trước mọi thử thách mới. Thường xuyên trò chuyện cùng trẻ, đặc biệt là những trẻ rụt rè nhút nhát, ít giao tiếp không chỉ là cách thúc đẩy sự giao tiếp mà còn giúp trẻ phát triển sự tự tin, kéo cô và trẻ lại gần nhau hơn, xóa đi khoảng cách trước đó. Khi cô dành thời gian lắng nghe, trò chuyện với trẻ là đang tạo cơ hội cho trẻ được thể hiện ý kiến và suy nghĩ của mình. Điều này giúp tạo nên môi trường an toàn và đáng tin cậy đối với trẻ giúp xây dựng được sự tự tin trong việc thể hiện ý kiến của mình. Rèn luyện sự tin cho trẻ là cả một quá trình. Điều này rất cần đến sự kiên nhẫn, bền bỉ của cô. Nếu chỉ sau một vài lần tác động không thấy trẻ tiến bộ mà cô nổi nóng, hoặc thờ ơ thì trẻ sẽ lại càng tự ti nhút nhát. Thái độ của cô ảnh hưởng không nhỏ đối với trẻ. Ví dụ như khi trẻ muốn tự mình kê bàn ngồi giúp cô giáo. Thay vì cô ngại việc trẻ bị ngã hoặc bàn đổ vào chân thì hãy để trẻ được làm cùng với sự giúp đỡ của cô giáo. Hay khi cô nhờ trẻ giúp cô một việc gì đó, nếu trẻ còn chậm hoặc làm chưa đúng mà cô mất kiên nhẫn thì trẻ sẽ càng lúng túng. Hay trong hoạt động âm nhạc, dạy trẻ vận động múa, bài “Múa cho mẹ xem”, tôi múa cho trẻ xem, rồi cho cả lớp, tổ, nhóm, sau đó là cá nhân trẻ lên múa. Để
- phần múa cá nhân sôi nổi, nhiều trẻ tự tin để lên biểu diễn một mình trước các bạn tôi sử dụng những câu hỏi: Bạn nào muốn làm nghệ sĩ? Bạn nào muốn múa tặng mẹ? Hay với những lời động viện, khích lệ: Các bạn lớp mình bạn nào múa cũng đẹp. Tay bạn dẻo quá, múa đẹp quá. Mẹ sẽ vui lắm đây!...rất nhiều trẻ muốn được lên biểu diễn để tặng mẹ. (Trẻ tự tin biểu diễn trước các bạn - Hình ảnh 7- Phần minh chứng) Kích thích sự tò mò ở trẻ cũng là một cách hay để giúp trẻ trở nên tự tin hơn. Dĩ nhiên là những lúc trẻ tìm tòi, khám phá như vậy, giáo viên cần phải luôn theo sát để đảm bảo sự an toàn cho trẻ. Nhưng để có thể giúp trẻ học được một kĩ năng mới, tôi không trực tiếp tham gia vào hoạt động của trẻ mà tạo điều kiện để trẻ tự thử nghiệm, phạm lỗi và học hỏi. Nhờ có sự tự tin, trẻ đã mạnh dạn trong mọi hoạt động và dám nói lên ý muốn của mình cho người khác nghe, trẻ tự tin khi làm bất cứ việc gì cô giao cho dù việc đó trẻ phải thử mới biết mình làm được không nhưng trẻ vẫn nhận lời với cô. Giải pháp 4: Giáo dục kỹ năng sống thông qua việc sử dụng các tình huống cho trẻ giải quyết vấn đề Trong cuộc sống có vô vàn các tình huống xảy ra đòi hỏi con người phải giải quyết, ứng phó. Khả năng vận dụng các kỹ năng sống một cách linh hoạt sẽ cho phép trẻ xử lý tốt các tình huống xảy ra với trẻ trong cuộc sống hàng ngày. Đó là nơi trẻ được cọ xát với rất nhiều tình huống thực tế giúp trẻ bồi dưỡng kỹ năng xử lý tình huống rất hiệu quả. Để đạt được hiệu quả cao tôi sử dụng các tình huống gần gũi, thực tế, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ. Ví dụ 1: Dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân khi đi lạc: Trường hợp 1: Khi được ông bà đón về, cho con ra sân chơi, ngoài sân có rất đông các bạn chơi và phụ huynh của các bạn. Đang chạy chơi rất vui mà con không nhìn thấy ông bà đâu con sẽ làm gì? Tôi cho trẻ suy nghĩ và trả lời theo cách giải quyết của mình. Sau đó tôi đưa ra phương án: khi không nhìn thấy ông bà đâu, con hãy bình tĩnh lại, quan sát lại một lượt, nếu vẫn không nhìn thấy ông bà hãy quay lại lớp học nhờ cô giáo giúp đỡ, nếu cô giáo không có ở lớp con hãy nhờ các ông bà của các bạn giúp đỡ. Trường hợp 2: Bị lạc bố mẹ khi đi xem lễ hội, siêu thị, khu vui chơi thì con sẽ làm thế nào? Tôi cho trẻ suy nghĩ, và trả lời. Gợi mở bằng các câu hỏi: Theo con làm vậy có được không? Tạo sao? Sau đó, tôi đưa ra phương án tối ưu nhất: Khi bị lạc các con hãy bình tĩnh, không khóc hay la hét và chạy lung tung mà hãy đứng yên một
- chỗ chờ. Vì bố mẹ sẽ có thể quay lại chỗ đó để tìm chúng mình. Hoặc các con có thể tìm đến những người mặc đồng phục giống nhau có đeo bảng tên, hoặc nhờ bác bảo vệ, cô bán hàng để giúp đỡ gọi điện thoại, hoặc thông báo lên loa để tìm bố mẹ, tuyệt đối không đi theo người lạ dù người đó hứa sẽ đưa về với bố mẹ, vì có thể đó là người xấu lợi dụng và sẽ bắt cóc con. Ví dụ 2: Dạy trẻ xử lý tình huống khi bị người lạ tiếp cận: Nếu có một người lạ đến gặp và cho con bánh, kẹo và rủ con đi chơi, đến chỗ làm của bố mẹ thì con làm như thế nào? Tôi dành thời gian cho trẻ suy nghĩ, cho trẻ đưa ra ý kiến của mình. Tiếp theo tôi phân tích, giải thích và giúp trẻ đưa ra phương án: con hãy từ chối một cách lịch sự “Cháu cám ơn, nhưng bố mẹ cháu dặn không nhận quà của người lạ”, và đi đến chỗ đông người. Ngoài ra, tôi đặt ra một trường hợp khác để trẻ giải quyết “Nếu con từ chối và chưa kịp đến chỗ đông người mà người đó có ý lôi kéo bắt con đi thì lúc đó con làm gì?”. Với tình huống này tôi muốn trẻ có phản ứng thật nhanh như hét to kêu cứu, dùng tay bám vào vật cố định nếu có, đánh trả vào người lạ, giãy giụa và chạy nhanh đến người thân gần đó hoặc chỗ đông người. Sau đó tôi cho trẻ thực hành các kỹ năng xử lý khi bị bắt cóc: Mời trẻ lên đóng vai, một cô giáo khác đóng vai người lạ. Thông qua vai trẻ đóng trẻ sẽ ứng phó với tình huống theo sự hiểu biết của bản thân, từ đó giúp trẻ khắc sâu hơn những kinh nghiệm mà trẻ có được. (Trẻ xử lý khi bị bắt cóc - Hình ảnh 8 - Phần minh chứng) Ví dụ 3: Kỹ năng thoát nạn khi có cháy: Nếu con đang chơi ở nhà mà con thấy có rất nhiều khói khói từ trong bếp ra con sẽ làm thế nào? Tôi cho trẻ suy nghĩ, trả lời theo cách nghĩ của mình. Sau đó tôi chốt lại cách giải quyết cho trẻ: Nếu thấy có nhiều khói từ trong bếp ra, nếu đang ở trong nhà con hãy cúi khom người, tay che miệng, bám sát vào tường và chạy ngay ra ngoài sân, sau đó hô to lên gọi mọi người đến cứu. Hãy nhắc mọi người số điện thoại chữa cháy. Nếu con đang chơi ngoài sân thì con tuyệt đối không được chạy vào nhà, hãy gọi người lớn đến giúp đỡ. Tôi cho trẻ thực hành cách thoát nạn khi có cháy xảy ra. (Dạy trẻ kỹ năng thoát nạn khi có cháy - Hình ảnh 9 - Phần minh chứng) Ví dụ 4: Dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ bản thân: phòng tránh xâm hại. Nếu có một bác cứ hay đến gần con, khen con xinh và nói yêu quý con, muốn cho con bánh kẹo, hay sờ tay vào mông, vào người con rồi rủ con đi cùng bác để lấy bánh kẹo con sẽ làm gì? Tôi dành thời gian cho trẻ suy nghĩ sau đó cho trẻ trả lời. Trao đổi với trẻ bằng một số câu hỏi như theo con làm như vậy có được không? Tại sao? Khi một

